Chương 1: Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ vụ sụp đồ bong bóng tin dụng nhà đất dưới chuẩn tại Mỹ. Tuy nhiên, đồ vỡ thị trường 20 bất động sản này chỉ là kết quả của những chính sách tồi tệ và những cú sốc tiêu cực lên nền kinh tế nước Mỹ từ trước đó. Sụp đồ thị trường tài chính tại Mỹ nhanh chóng lan rộng ra các nước phát triển khác và từ đó lan sang cả các nước đang phát triên và các nước nghèo. Cuộc khủng hoảng lần này có một số đặc điểm nổi bật: (1) cuộc khủng hoảng vừa mang tính chu kỳ, vừa là thất bại của các chính sách; (2) cuộc khủng hoảng phan ánh sự thất bại thé chế quản trị nền tài chính quốc gia; (3) tốc độ tăng trưởng kinh tế và thị trường tài chính phục hồi sớm hơn dự báo; (4) cuộc khủng hoảng này tác động sâu rộng và toàn diện, nền kinh tế thực vẫn khó khăn, hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa trở lại bình thường, thất nghiệp vẫn ở mức cao.
Đứng trước cuộc khủng hoảng tôi tệ bậc nhất trong lịch sử, chính phủ của nhiều nước đã nhanh chóng triển khai nhiều biện pháp và chính sách nhằm giảm tốc độ nền kinh tế đang rơi xuống đáy và đồng thời nhằm khôi phục nền kinh tế trong thời gian ngắn nhất. Phan ứng chính sách của các nhà nước bao gồm: (1) chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nới lỏng đồng thời và đồng loạt; (2) những giải pháp chính sách ứng phó khủng hoảng mang tính "phi thông thường" và "chưa có tiền 18"; (3) các nền kinh tế bắt đầu đưa ra kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế thời kỳ hậu ân. Cả thị trường tài chính và các giới chức có thẩm quyền về tài chính đều không nhận thức ra khu vực sản xuất chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Nền kinh tế sản xuất được kích thích nhờ mở rộng tín dụng, vậy khi thắt chặt tín dụng thì nó bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực.
Cả giới chức có thâm quyền về tài chính lẫn những thành viên thị trường đều mac phải những ngộ nhận căn bản về cách vận hành của các thị trường tài chính. “Những ngộ nhận này thé hiện không chỉ trong sự bất lực để hiểu được cái gì đang diễn ra mà còn trong việc nảy sinh ra những thái quá, là gốc rễ của khủng hoảng trên thị trường hiện nay”(G. Phần lớn những thái quá trong các thị trường tài chính là do các nhà điều hành chính sách đã không thực thi được việc kiểm soát đúng cách. Một sé phuong pháp và công cụ tài chính mới được đưa ra đặt cơ sở trên những tiền dé sai.
Chúng 21 đã tự cho thay là chúng không hề bền vững. Rui ro đạo đức đặt ra một van dé hóc búa, khi hệ thống tài chính lâm nguy thì giới chức trách phải can thiệp. Giới điều hành đã dé cho van đề tuột khỏi tam kiểm soát đến nỗi chính họ phải di cứu nguy. Ngành tài chính đã được phép kiếm lợi quá đà và phình đại.
“Alan Greenspan đã quá tôn thờ chủ nghĩa thị trường chính thống”ø, tr, 253 Ca bong bóng nhà cửa, lẫn siêu bong bóng đều có điểm đặc trưng là sử dụng thái quá tiền vay nợ. Có phải chăng một kỷ nguyên đã kết thúc? “Tôi cho rằng nó có nghĩa là kết thúc một giai đoạn dai cua sự ôn định tương đối dựa trên cơ sở Hoa kỳ là quyền lực thống trị và đồng đô la là tiền dự trữ quốc tế. Tôi đã nhìn thấy trước một thời kỳ mat ôn định về tài chính và chính trị, mà tiếp theo đó hy vọng sẽ nôi lên một trật tự thé gIớI moi» G. Kế từ khủng hoảng kinh tế Châu A 1997, chúng ta dang trai qua một cuộc khủng hoảng tài chính khá tôi tệ, mức độ tàn phá tương đương với khủng hoảng tài chính năm 1930.
Khủng hoảng chu kỳ kinh tế là bản chất của kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng khủng hoảng lần này có sự khác biệt với các cuộc khủng hoảng trước, đó là khủng hoảng niềm tin vào sự điều tiết của thị trường, theo lý thuyết , đã được sùng bái từ thời Tổng Thống Ronald Reagan và sự mat giá của đồng đô la Mỹ là đồng tiền dự trữ quốc tế. Trong chương 2, chúng ta sẽ xem xét sự tác động của cuộc khủng hoảng này đến kinh tế - xã hội Việt Nam như thế nào? 22 Chương 2 TÁC DONG CUA CUỘC KHỦNG HOANG DOI VỚI KINH TE - XÃ HỘI VIỆT NAM 2. TAC DONG DOI VOI PHAT TRIEN KINH TE 2. Tăng trưởng và chuyển dich cơ cấu kinh tế Năm 2009 nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động tới nền kinh tế ở nhiều khía cạnh như thị trường xuất khẩu, luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài, việc làm,.Tất cả các chỉ số kinh tế vĩ mô này đều suy giảm rõ rệt. Kết quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 đạt 5,32%, thấp nhất trong nhiều năm vừa qua kế từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu A năm 1997 (năm 1999 tốc độ tăng trưởng GDP chỉ là 4,8%). Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam đạt được trong năm 2009 mặc dù vậy vẫn nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hàng đầu thế giới. Téc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam so với thé giới Tốc độ tăng GDP (%) 2007 2008 2009 Việt Nam 8,48 6,18 5,32 Thế giới 3,7 1,7 -2,9 Các nước thu nhập cao 2,6 0,4 -4,2 Các nước dang phat triển 8,1 5,9 1,2 Nguồn: GSO (2010) và Worldbank (2009) Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 là thấp so với nhiều năm gần đây nhưng khi xem xét quá trình tăng trưởng theo từng quí cho thấy nền kinh tế đang có dâu hiệu phục hôi và tiên triên tôt.
23 Đồ thị dưới cho thấy tăng trưởng theo quí có xu hướng giảm dan từ qui I năm 2008 và điểm day rơi vào qui I của năm 2009 với tốc độ tăng trưởng chỉ 3,14% so với quý 1 của năm 2008. Đây chính là giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế do khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như những bat ổn trong nước từ năm 2008 mang lại. Nhân tố quan trọng giúp nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng đó chính là những can thiệp kịp thời, mạnh mẽ, và quyết liệt của Chính phủ thông qua chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, và chính sách thương mại. Với gói kích cầu Chính phủ thực hiện từ quí III năm 2008, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã sớm phục hồi và có xu hướng đi lên khá mạnh.
Điều này cho chúng ta thấy vai trò của Chính phủ hơn bao giờ hết là đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế đắm chìm trong khủng hoảng. Tóc độ tăng trưởng GDP theo quý - Nguon: GSO (2010) Năm 2009, trước ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, tốc độ tăng trưởng của cả 3 khu vực: công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp đều có xu hướng giảm theo đà suy giảm từ năm 2008. 24 2005 2006 2007 2008 2009 Nông-lâm-thủysản —=#— Công nghiệp - xaydung —S— Dịch vụ Đồ thị 2. Tóc độ tăng trưởng theo khu vực sản xuất (giá so sánh năm 1994) Nguồn: Tổng cục Thống kê (2010) Nhìn chung, giữa các khu vực vẫn đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng dần khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ, giảm dần khu vực nông nghiệp.
Tuy nhiên, sự dịch chuyên giữa 3 khu vực diễn ra rất chậm chạp với tỷ lệ thay đổi không nhiều. 100% + 90% 3 80% + 70% + 60% + 50% 3 40% + 30% 3 20% 1 10% + 0% ñNông-lâm-thủy sản O Công nghiệp — xây dựng Đồ thị 3. Chuyển dịch cơ cau kinh tế giai đoạn 2005 — 2009 Nguồn: Tổng cục Thống kê (2010) Tốc độ tăng trưởng của khu vực I chỉ đạt 1,83% so với 3,79% năm 2008. Tăng trưởng chậm của khu vực nông nghiệp là do sản lượng tăng không đồng đều trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi.
Mặc dù ảnh hưởng của bão lũ gây thiệt hại nặng nè tại Tây Nguyên và miền Trung nhưng sản lượng của một số loại cây trồng cả nước vẫn tăng so với năm 2008. 25 Do sức mua trên thị trường trong nước và thế giới đi xuống từ năm 2008 nên hầu hết giá các loại nông phẩm giảm đã ảnh hưởng mạnh tới thu nhập của người nông dân dẫn tới nhiều diện tích sản xuất một số cây trồng bị thu hẹp hoặc giảm năng suất do không được dau tư chăm sóc. Mặt khác, do yếu tổ thời tiết (bão lũ và thiếu nước tưới tiêu) cũng đã ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp ¡ 40), Do có tốc độ tăng trưởng chậm hơn khu vực công nghiệp và dịch vụ nên cơ cầu khu vực nông — lâm — thủy sản đang dan thu hẹp khá đều đặn qua từng năm với mức giảm từ 19,56% năm 2005 xuống còn 16,99% năm 2009 (đồ thị 3). Công nghiệp — xây dựng: Tương tự năm 2008, tăng trưởng công nghiệp năm 2009 chỉ đạt 5,52%, giảm mạnh so với những năm trước đây.
Nếu như giai đoạn 2000-2007, khu vực II là động lực giúp nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp bình quân đạt 10,2% hàng năm. Việc tăng trưởng ngành công nghiệp chỉ ở mức thấp có ảnh hưởng mạnh tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2009. Trong hai năm gần đây do tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp xây dựng thấp hơn khu vực dịch vụ nên từ năm 2007 hầu như tỷ trọng của khu vực này trong GDP hầu như không thay đổi, thậm chí còn giảm 0,1 phần trăm (41,78% năm 2007 so với 41,68% năm 2009). Mặc dù không có thay đổi nhiều về cơ cau nhưng khu vực công nghiệp van là khu vực có ty trọng đứng đầu đóng góp vào GDP cả nướciai, Dịch vụ: So với các ngành khác, khu vực dich vụ dat tốc độ tăng trưởng cao nhất với 6,63%.
Là khu vực ít bị tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng kinh tế (ngoại trừ khách du lịch quốc tế giảm). Lượng khách quốc tế nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng đến nước ta cả năm 2009 ước tính chỉ đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 10,9% so với năm trước do chủ yếu phụ thuộc vào thị trường nội địa.