Mở đầu đề tài Chương 2. Khung lý thuyết Chương 3. Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu Chương 4. Kết quả và thảo luận nghiên cứu Chương 5.
Kết luận và hàm ý chính sách 1. Đóng góp đề tài Đề tài có hai đóng góp cho các nghiên cứu về cơ cấu thuế và tăng trưởng kinh tế ở hai khía cạnh lý thuyết và thực nghiệm. Ở khía cạnh lý thuyết, đề tài đã bổ sung kho tàng tài liệu nghiên cứu tiếng việt về mối quan hệ giữa cơ cấu thuế và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Ở khía cạnh thực nghiệm, đề tài đã tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng cả thuế thu nhập và thuế tiêu dùng đều làm cản trở tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2. Khái niệm TTKT TTKT có thể được định nghĩa như là khả năng mở rộng quy mô để sản xuất hàng hóa và cung câp dịch vụ mà người dân trong nền kinh tế mong muốn (Peterson, 1988). Tương tự như vậy, Todaro và Smith (2003) đã mô tả TTKT như là một quá trình ổn định, nhờ đó mà năng lực sản xuất của nền kinh tế sẽ được cải thiện theo thời gian và mang lại sự gia tăng trong tổng sản lượng của quốc gia cũng như thu nhập của quốc gia. Bên cạnh đó, theo Gillis và các cộng sự (1987) TTKT cũng có thể được định nghĩa như là sự gia tăng trong thu nhập của quốc gia hoặc của mỗi người dân trong quốc gia cũng như sản lượng gia tăng, trong đó, thu nhập bình quân đầu người được đo lường bởi tổng sản lượng quốc nội (giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi nền kinh tế của một quốc gia trong một năm nhất định) chia cho tổng dân số của quốc gia.
Tuy nhiên, Kuznets (1974) cho rằng không nên định nghĩa tăng trưởng trong một phạm vi hạn hẹp. Cụ thể, tác giả cho rằng không nên giới hạn phạm vi định nghĩa TTKT trong khuôn khổ sản lượng hoặc thu nhập, mà nên bao gồm những thay đổi trong cơ cấu của nền kinh tế và những thay đổi lớn trong điều kiện xã hội và thể chế. Trong đó những thay đổi này sẽ làm kích thích TTKT bằng cách tăng sản lượng hoặc thu nhập mà người dân trong nền kinh tế đạt được. Trong công trình nghiên cứu của tác giả, tác giả đã xác định TTKT của một quốc gia như là một sự gia tăng lâu dài trong khả năng cung cấp hàng hóa kinh tế ngày càng đa dạng hơn cho người dân trong nền kinh tế, sự gia tăng trong khả năng cung cấp này sẽ dựa vào công nghệ tiên tiến, chất lượng thể chế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Về cơ bản, theo Bowden (1992), TTKT của bất kỳ quốc gia nào phải được xây dựng dựa trên nền tảng về sự phát triển một lực lượng lao động tốt hơn (sử dụng lao động tốt hơn, giáo dục tốt hơn, thái độ và kỹ năng tốt hơn) và đạt được vốn nhiều hơn (xây dựng thêm nhà máy, và sản xuất hoặc nhập khẩu nhiều máy móc và thiết bị tiên tiến hơn). Ở góc độ truyền thống, có ba thành phần chính của TTKT. Các thành phần này bao gồm sự tích lũy vốn, tăng trưởng trong lực lượng lao động và việc cải thiện trình độ công nghệ kỹ thuật. Tích lũy vốn là quá trình tăng vốn trong nền kinh tế, trong khi đó tăng trưởng lực lượng lao động nhìn chung xảy ra khi tổng dân số của quốc gia gia tăng.
Mặt khác, việc cải thiện trình độ công nghệ kỹ thuật của một quốc gia thì được xem như là sự gia tăng trong kiến thức khoa học dưới hình thức phát minh hoặc đổi mới có liên quan đến cả vốn vật chất và vốn con người. Cơ cấu thuế Cơ cấu thuế được xác định như là tỷ trọng của các loại thuế trong tổng thu thuế của quốc gia trong một năm nhất định. Có rất nhiều cách để phân chia cơ cấu thuế theo các nghiên cứu trước đây. Chẳng hạn như, các nghiên cứu trước đây cho rằng thuế có thể được phân loại thành thuế trực thu và thuế gián thu.
Trong đó thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế, và người nộp thuế cũng chính là người phải chịu thuế. Ngược lại, thuế gián thu thì là thuế đánh giá tiếp vào người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ mà người chịu thuế sử dụng. Hoặc ở một khía cạnh khác, cơ cấu thuế có thể được phân chia thành thuế bóp méo đến các yếu tố tăng trưởng (vốn, lao động…) và thuế không bóp méo đến các yếu tố tăng trưởng của quốc gia. Hơn thế nữa, chi tiết hơn thì cơ cấu thuế có thể được phân chia thành nhiều loại thu thuế khác nhau.
Chẳng hạn như theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cơ cấu thuế có thể được phần thành các thành phần như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân Thuế tiêu dùng Thuế quan Thuế tài sản Và các loại thuế khác Trong luận văn này, luận văn sẽ sử dụng hai loại thuế là thuế thu nhập (bao gồm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp) và thuế tiêu dùng trên tổng số thuế thu được để đại diện cho cơ cấu thuế của các quốc gia. Lý thuyết giải thích tác động của cơ cấu thuế đến TTKT Có nhiều lý thuyết giải thích ảnh hưởng tác động của thuế đến TTKT của các quốc gia, nhưng nhìn chung có 04 lý thuyết giải thích tốt mối quan hệ giữa hai biến số này. Theo đó các lý thuyết này bao gồm lý thuyết tăng trưởng cổ điển, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, lý thuyết trường phái Keynes và lý thuyết thu thuế truyền thống. Đầu tiên, luận văn sẽ trình bày đến lý thuyết của Keynes.
lý thuyết Keynes là một trong các lý thuyết giải thích tác động của thuế đến TTKT. Trong khuôn khổ Keynes cổ điển, các chính sách tài khóa làm xáo trộn tiêu dùng và tiết kiệm cá nhân thông qua thu nhập khả dụng và tỷ suất sinh lợi. Theo đó, việc giảm thuế sẽ thúc đẩy tiêu dùng cá nhân bằng cách tăng thu nhập khả dụng. Tuy nhiên, việc giảm thuế tạm thời sẽ có tác động không đáng kể đến tiêu dùng cá nhân theo giả thuyết thu nhập thường xuyên.
Trong thuyết cân bằng Ricardo, việc giảm thuế sẽ không có tác động nào lên tiêu dùng khi người tiêu dùng tiết kiệm hơn là chi tiêu trong trường hợp kỳ vọng thuế tăng lên trong tương lai. Việc gia tăng tài trợ chi tiêu Chính phủ thông qua việc thu thuế cao hơn có thể làm gia tăng các tác lực gây lạm phát, tác động tiêu cực đến sự tích lũy vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Việc này bắt nguồn từ thực tế rằng nó liên hệ với sự không chắc chắn lớn hơn với lợi tức tiết kiệm hiện tại cũng như với các mức giá tương đối trong tương lai vốn quan trọng đối với lợi tức đầu tư (ROI). Tỷ lệ lạm phát cao dẫn đến lãi suất thực bất lợi đối với người gửi tiết kiệm, làm giảm dòng tiết kiệm, hạn chế đầu tư.
Tuy nhiên, nhờ tác dụng của hiệu ứng Tobin-Mundell, việc lạm phát được dự đoán ở mức cao sẽ làm thay đổi hạng mục đầu tư từ số dư tiền thực và sang vốn thực, từ đó khuyến khích đầu tư và vì thế thúc đẩy TTKT. Lý thuyết cuối cùng mà luận văn trình bày chính là lý thuyết thu thuế truyền thống. Trong đó, lý thuyết thu thuế truyền thống cho rằng mức độ cần thiết về mặt tài chính liên hệ chặt chẽ đến mức độ phát triển của nền kinh tế (Musgrave, 1969). Theo công thức này, để đạt được một mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người nhất định, cần đánh thuế lên một mức thu nhập quốc gia nhất định.
Thuế là các khoản đóng góp bắt buộc mà không có lợi ích đối ứng rõ ràng nào để trả lại cho người nộp thuế. Thuế hướng đến việc buộc các hộ gia đình phải chuyển giao quyền mua cho Chính phủ để sử dụng hoặc chuyển đến những người khác. Thuế ảnh hưởng lên sự phân bổ các nguồn lực, nhận ra các chi phí xã hội không được phản ánh trong giá thị trường và thuế cũng tác động lên sự phân phối thu nhập và của cải bởi chúng làm giảm thu nhập khả dụng và tài sản của những người nắm giữ chúng (Goode, 1984). Mansfield (1988) cũng cho rằng lý thuyết thu thuế như là lý thuyết có liên hệ nhất đến việc giải thích mô hình cấu trúc thu thuế ở các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển.
Lý thuyết này cho rằng khi một quốc gia phát triển, trong đó có sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người và mức độ tiền tệ hóa ngày càng lớn, các khoản thuế trực thu được kỳ vọng sẽ nhận được sự quan tâm hơn cả thuế gián thu. Vì thế, trong khi các khoản thu tài chính ở các quốc gia phát triển chủ yếu là từ thuế trực thu, thì các khoản thu tài chính của các quốc gia kém phát triển hơn đến đến từ thuế gián thu. Một sự khác biệt nữa tập trung vào thuế gián thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 do Bird (1987) chỉ ra rằng các quốc gia kém phát triển nhất (LDCs) dựa vào thuế gián thu trong khi các quốc gia phát triển dựa vào thuế trực thu. Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Kneller và các cộng sự (1999) đã tiến hành nghiên cứu tác động của cơ cấu thuế và chi tiêu chính phủ đến TTKT của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1970 – 1995.
Trong đó mẫu nghiên cứu của tác giả bao gồm 22 quốc gia thuộc nhóm quốc gia OECD. Hơn thế nữa, mô hình nghiên cứu của tác giả sử dụng thuế bóp méo các yếu tố tăng trưởng của quốc gia (bao gồm thuế thu nhập, thuế tài sản) và thuế không bóp méo (thuế tiêu dùng) để đại diện cho cơ cấu thuế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu. Đồng thời, trong mô hình nghiên cứu này, các tác giả đo lường TTKT bởi sự gia tăng trong GDP trên đầu người, cũng sử dụng đầu tư nội địa, tăng trưởng lực lượng lao động, thặng dư ngân sách để đại diện cho các biến độc lập giải thích TTKT của các quốc gia. Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng mô hình nghiên cứu và tìm thấy rằng các yếu tố đại diện cho cơ cấu thuế có các tác động đến TTKT của các quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê 10%.