Tổng quan nghiên cứu

Chính sách thuế luôn là một trong những công cụ tài khóa có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất đến các quyết định lao động, tiết kiệm và đầu tư của mọi nền kinh tế. Theo ước tính từ các tổ chức tài chính quốc tế, sự biến động trong cơ cấu thu ngân sách có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ tích lũy vốn và năng suất sản xuất của một quốc gia. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các sắc thuế và tăng trưởng kinh tế vẫn là chủ đề gây nhiều tranh luận học thuật chưa có hồi kết. Trong khi phần lớn các công trình nghiên cứu tập trung vào khối các nước phát triển OECD, nguồn tài liệu thực nghiệm tại các thị trường mới nổi lại vô cùng khan hiếm.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu làm rõ ảnh hưởng của cơ cấu thuế đến tăng trưởng kinh tế tại 38 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn 17 năm, từ năm 2000 đến năm 2016. Đề tài tập trung phân tích sâu hai thành phần trụ cột trong tổng thu ngân sách nhà nước là thuế thu nhập và thuế tiêu dùng. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá vai trò kiểm soát của các biến số kinh tế vĩ mô cốt lõi như lạm phát, độ mở thương mại, đầu tư nội địa, chi tiêu chính phủ và tốc độ gia tăng dân số.

Dựa trên bộ dữ liệu bảng gồm 546 quan sát được chuẩn hóa, nghiên cứu đo lường tăng trưởng kinh tế qua hai chỉ báo định lượng gồm tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng GDP bình quân đầu người. Ý nghĩa then chốt của luận văn là cung cấp bằng chứng thực nghiệm ở mức ý nghĩa thống kê 1%, giúp các nhà quản lý kinh tế lượng hóa tổn thất tăng trưởng từ các sắc thuế, từ đó tái cấu trúc hệ thống thu ngân sách nhà nước theo hướng thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý luận của đề tài được xây dựng từ 4 trường phái kinh tế học lớn. Thứ nhất là lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956), giả định chính sách tài khóa không tác động đến tốc độ tăng trưởng dài hạn mà chỉ có tiến bộ công nghệ quyết định thu nhập bình quân đầu người. Thứ hai là trường phái lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Barro (1990), Lucas (1990) và Rebelo (1991), khẳng định chính sách tài khóa và thuế khóa có khả năng can thiệp trực tiếp đến sự tích lũy vốn con người, vốn vật chất và tốc độ tăng trưởng dài hạn. Thứ ba là lý thuyết trường phái Keynes, giải thích cơ chế thuế làm xáo trộn thu nhập khả dụng, hành vi tiêu dùng và đầu tư. Thứ tư là lý thuyết thu thuế truyền thống của Musgrave (1969) và Goode (1984), chỉ rõ mức độ phát triển kinh tế quy định sự dịch chuyển tỷ trọng giữa thuế trực thu và thuế gián thu.

Mô hình nghiên cứu kế thừa phương trình chuẩn của Petru – Ovidiu (2015) cùng Yanikkaya và Turan (2018), mô tả mối quan hệ phụ thuộc giữa tốc độ tăng trưởng với biến trễ tăng trưởng, tỷ lệ thuế tiêu dùng trên tổng thu thuế, tỷ lệ thuế thu nhập trên tổng thu thuế và 5 biến kiểm soát vĩ mô. Đề tài vận dụng 4 khái niệm nền tảng:

  • Thuế thu nhập: Thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân và lợi nhuận doanh nghiệp.
  • Thuế tiêu dùng: Thuế gián thu cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ cung ứng trên thị trường.
  • Thuế bóp méo: Các khoản thuế làm thay đổi hành vi kinh tế tự nhiên của người dân và doanh nghiệp.
  • Cơ cấu thuế: Tỷ trọng phân bổ của từng sắc thuế cụ thể trong tổng quy mô thu ngân sách nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Chỉ tiêu Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế Giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong toàn bộ mốc thời gian từ năm 2000 đến năm 2016. Quy trình chọn mẫu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp tiêu chí sàng lọc dữ liệu liên tục, loại bỏ các quốc gia thiếu số liệu cơ cấu thuế tại mốc thời gian chốt năm 2016. Kết quả tạo lập bộ dữ liệu bảng không cân đối gồm 38 quốc gia với 546 quan sát, phân bổ thành 3 tiểu vùng: 18 quốc gia Đông Á – Thái Bình Dương, 6 quốc gia Nam Á và 14 quốc gia Trung Đông.

Về phương pháp phân tích, các kiểm định kinh tế lượng đã được thực hiện nghiêm ngặt. Kiểm định hệ số phóng đại phương sai (VIF) được dùng để loại trừ nguy cơ đa cộng tuyến. Kiểm định Modified Wald xác nhận sự hiện diện của hiện tượng phương sai thay đổi, trong khi kiểm định Wooldridge phát hiện hiện tượng tự tương quan chuỗi. Do mô hình có chứa biến trễ phụ thuộc và có sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa thuế, chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế, các phương pháp OLS và 2SLS thông thường sẽ cho ra kết quả chệch và không hiệu quả. Vì vậy, luận văn lựa chọn phương pháp hồi quy Moment tổng quát (GMM) làm phương pháp ước lượng chuẩn mực nhằm khắc phục triệt để hiện tượng nội sinh, phương sai thay đổi và tự tương quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng GMM trên mẫu 38 quốc gia đang phát triển đã ghi nhận 4 phát hiện thực nghiệm cốt lõi:

Thứ nhất, cả hai thành phần của cơ cấu thuế là thuế thu nhập và thuế tiêu dùng đều có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa thống kê cao nhất là 1%. Kết quả này đồng nhất khi đo lường bằng tốc độ tăng trưởng GDP lẫn tốc độ tăng GDP bình quân đầu người, chứng minh việc gia tăng tỷ trọng của hai sắc thuế này trong tổng thu ngân sách đều làm kìm hãm quy mô sản lượng quốc gia.

Thứ hai, thuế tiêu dùng thể hiện tác động tiêu cực mạnh mẽ hơn rõ rệt so với thuế thu nhập. Độ lớn của hệ số co giãn âm từ thuế tiêu dùng cao hơn thuế thu nhập, khẳng định các chính sách gia tăng thuế suất đánh vào quyết định chi tiêu trực tiếp của người dân tạo ra lực cản tăng trưởng nặng nề hơn việc điều chỉnh thuế thu nhập.

Thứ ba, ba yếu tố kinh tế vĩ mô gồm độ mở thương mại, đầu tư nội địa và chi tiêu chính phủ đều thể hiện tác động cùng chiều thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa thống kê từ 1% đến 10%.

Thứ tư, tỷ lệ lạm phát và tốc độ gia tăng dân số có mối tương quan nghịch chiều với tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa thống kê 10%, cho thấy lạm phát cao và áp lực nhân khẩu học làm suy giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế bình quân.

Thảo luận kết quả

Tác động tiêu cực của thuế thu nhập hoàn toàn phù hợp với lập luận của trường phái tăng trưởng nội sinh và các nghiên cứu của Bleaney và cộng sự (2001), Arnold và cộng sự (2011). Thuế thu nhập làm giảm thu nhập thực tế khả dụng, triệt tiêu động lực làm việc của lực lượng lao động và làm suy giảm tỷ suất sinh lời kỳ vọng của các doanh nghiệp, từ đó làm chùn bước các quyết định tái đầu tư mở rộng sản xuất.

Tuy nhiên, phát hiện thuế tiêu dùng gây tác động tiêu cực mạnh hơn thuế thu nhập là một đóng góp học thuật rất đáng chú ý tại các nền kinh tế đang phát triển, tạo ra sự khác biệt so với các kết luận tại khối OECD của Szarowska (2013). Tại 38 quốc gia đang phát triển ở Châu Á – Thái Bình Dương, mức thu nhập bình quân của người dân nhìn chung còn ở ngưỡng trung bình và thấp, với xu hướng tiêu dùng cận biên rất cao. Khi thuế tiêu dùng tăng, giá cả hàng hóa leo thang trực tiếp bóp nghẹt sức mua của đại bộ phận dân chúng, làm sụt giảm tổng cầu ngay lập tức và tác động tiêu cực đến toàn bộ chuỗi sản xuất kinh doanh.

Toàn bộ các chuỗi số liệu thực nghiệm và hệ số hồi quy được tổng hợp trực quan qua 2 bảng kết quả hồi quy chi tiết cho 2 biến phụ thuộc GDPGR và GDPPCGR. Đồng thời, mối liên hệ này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ phân tán đa biến, minh họa rõ nét xu hướng suy giảm của tốc độ tăng trưởng kinh tế khi tỷ trọng thu thuế tiêu dùng và thuế thu nhập gia tăng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng định lượng thu được, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược dành cho các nhà hoạch định chính sách:

Thứ nhất, cơ cấu lại tỷ trọng thuế gián thu thông qua việc điều chỉnh giảm biểu thuế suất thuế tiêu dùng và thuế giá trị gia tăng đối với nhóm hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất. Mục tiêu cụ thể là duy trì tỷ trọng thuế tiêu dùng ở mức cân bằng khoảng 25% đến 30% tổng thu thuế quốc gia trong lộ trình 2026 – 2030, do Bộ Tài chính và Quốc hội chủ trì thực hiện nhằm kích cầu tiêu dùng nội địa.

Thứ hai, cải cách hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp và cá nhân bằng cách áp dụng các chính sách ưu đãi thuế có trọng tâm, khấu trừ thuế cho các hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ. Lộ trình triển khai trong 3 đến 5 năm tới hướng tới mục tiêu nâng tỷ suất sinh lợi thực của dòng vốn tư nhân thêm 1,5% đến 2,0% mỗi năm, do Tổng cục Thuế và cơ quan tài chính địa phương triển khai.

Thứ ba, đẩy mạnh giải ngân chi tiêu chính phủ vào các công trình hạ tầng kỹ thuật chiến lược như giao thông huyết mạch, năng lượng và viễn thông. Đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt trên 95% kế hoạch hàng năm, đồng thời duy trì tỷ lệ tổng đầu tư nội địa trên GDP ở mức tối thiểu 28% đến 32% mỗi năm từ nay đến năm 2030, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ ngành thực thi.

Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại, mở rộng mạng lưới hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Mục tiêu thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng bình quân 8% đến 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026 – 2035, do Bộ Công thương và các hiệp hội doanh nghiệp phối hợp chỉ đạo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  • Các nhà hoạch định chính sách kinh tế và quản lý tài chính công: Cung cấp mô hình định lượng tin cậy để đánh giá tác động dự phóng của các đợt cải cách thuế, giúp xây dựng cơ cấu thu ngân sách tối ưu giữa thuế trực thu và gián thu mà không làm tổn hại đến đà tăng trưởng kinh tế.
  • Chuyên gia phân tích vĩ mô tại các quỹ đầu tư và định chế tài chính: Ứng dụng khung dữ liệu 546 quan sát của 38 quốc gia để xây dựng các kịch bản dự báo tăng trưởng GDP, phân tích rủi ro tài khóa và đánh giá môi trường kinh doanh tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo chuẩn mực về quy trình ước lượng GMM trên dữ liệu bảng động, giải quyết triệt để các khuyết tật mô hình và bài toán biến nội sinh.
  • Học viên cao học và sinh viên đại học ngành kinh tế: Nắm bắt phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm, kỹ thuật khai thác chỉ tiêu từ hệ thống dữ liệu WDI của World Bank và IMF, cùng kỹ năng cấu trúc một bài nghiên cứu khoa học đạt chuẩn quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cả thuế thu nhập và thuế tiêu dùng đều làm giảm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển? Bằng chứng thực nghiệm ở mức ý nghĩa 1% từ 38 quốc gia chỉ ra rằng thuế thu nhập làm giảm động lực lao động và triệt tiêu lợi nhuận tái đầu tư của doanh nghiệp. Trong khi đó, thuế tiêu dùng làm tăng giá cả hàng hóa, trực tiếp làm sụt giảm thu nhập thực tế và sức mua của người dân tại các nền kinh tế đang phát triển.

Vì sao thuế tiêu dùng lại gây tác động tiêu cực mạnh hơn thuế thu nhập? Tại các thị trường đang phát triển, phần lớn người dân có mức thu nhập trung bình thấp và tỷ lệ chi dùng cho sinh hoạt thiết yếu chiếm phần lớn thu nhập. Do đó, thuế tiêu dùng đánh trực tiếp vào rổ hàng hóa sinh hoạt hàng ngày sẽ làm giảm tổng cầu của nền kinh tế nhanh chóng và nghiêm trọng hơn so với việc đánh thuế trên thu nhập tích lũy.

Phương pháp hồi quy GMM giải quyết vấn đề gì vượt trội hơn mô hình OLS? Mô hình nghiên cứu chứa biến trễ tăng trưởng và tồn tại quan hệ tác động hai chiều giữa thuế, chi tiêu công với tăng trưởng kinh tế. Kiểm định cho thấy mô hình bị vi phạm phương sai thay đổi và tự tương quan chuỗi. Phương pháp GMM sử dụng các biến trễ làm biến công cụ để triệt tiêu hiện tượng nội sinh, mang lại các ước lượng không chệch và hiệu quả cao.

Bộ dữ liệu nghiên cứu có độ tin cậy và bao quát ra sao? Bộ dữ liệu gồm 546 quan sát thu thập liên tục trong 17 năm (2000 – 2016) từ hai định chế tài chính uy tín là Ngân hàng Thế Giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Mẫu nghiên cứu bao phủ 38 nền kinh tế đang phát triển tại 3 khu vực gồm 18 quốc gia Đông Á – Thái Bình Dương, 6 quốc gia Nam Á và 14 quốc gia Trung Đông.

Đầu tư nội địa và chi tiêu chính phủ đóng vai trò thế nào trong việc thúc đẩy tăng trưởng? Mô hình GMM chứng minh đầu tư nội địa và chi tiêu chính phủ tác động cùng chiều mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Đầu tư giúp gia tăng lượng vốn trên mỗi lao động và cải thiện năng suất, trong khi chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng giúp cắt giảm chi phí sản xuất cho toàn bộ khu vực tư nhân.

Kết luận

  • Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định cả thuế thu nhập và thuế tiêu dùng đều tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của 38 quốc gia đang phát triển ở mức ý nghĩa 1%.
  • Nghiên cứu phát hiện thuế tiêu dùng có hệ số tác động tiêu cực mạnh hơn thuế thu nhập, chỉ ra tính nhạy cảm cao của tổng cầu tiêu dùng tại các thị trường mới nổi.
  • Kết quả xác thực vai trò thúc đẩy tăng trưởng vượt trội của độ mở thương mại, chi tiêu công và tỷ lệ đầu tư nội địa trên GDP.
  • Đóng góp học thuật quan trọng qua việc vận dụng thành công phương pháp GMM trên bộ dữ liệu 546 quan sát giai đoạn 2000 – 2016 để xử lý triệt để hiện tượng nội sinh.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu trong chu kỳ 2026 – 2030 cần tích hợp thêm các chỉ số đo lường chất lượng thể chế và hiệu quả quản trị công để tối ưu hóa chính sách tài khóa quốc gia.