Chương I: Những quy định chung, Điều 2: Giải thích thuật ngữ). Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2004): Quốc phòng, công cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thể hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học. của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô. Tổ chức quốc phòng của mỗi nước phụ thuộc trực tiếp vào chế độ chính trị-xã hội, truyền thống dân tộc và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước.
Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia. Từ các khái niệm trên có thể thấy quốc phòng được hiểu theo nghĩa rộng là công cuộc bảo vệ đất nước của một quốc gia. Đại hội Đảng lần thứ XII đã khẳng định những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, trong đó nội hàm của vấn đề bảo vệ Tổ quốc được mở rộng và bao trùm hơn, thể hiện tính toàn diện, tổng thể của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đảng đã rất chú trọng tới mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc với mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định của quốc gia.
Có thể hiểu, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong xử lý những vấn đề nhạy cảm, phức tạp hiện nay trên tinh thần coi mục tiêu tối thượng là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và đi liền với đó là phải giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định để tranh thủ mọi nguồn lực (cả nội lực và ngoại lực) nhằm xây dựng, phát triển đất nước bền vững hơn [19]. 14 z - Khái niệm an ninh: An ninh trong nghiên cứu này được hiểu là an ninh quốc gia. Theo khoản 1 điều 3 Luật an ninh quốc gia năm 2004 nêu ra khái niệm về an ninh quốc gia như sau: “An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. An ninh quốc gia bao gồm an ninh trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, quốc phòng, đối ngoại…trong đó an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt.
Khoản 2 điều 3 Luật an ninh quốc gia quy định: “Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia”. Từ hai định nghĩa về quốc phòng và an ninh, có thể thấy nội hàm và mục tiêu trong hai khái niệm trên có nhiều điểm trùng nhau. Chính vì vậy mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn gắn chặt giữa hai nhiệm vụ về quốc phòng và an ninh với nhau. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Gắn kết quốc phòng với an ninh.
Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án”. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[37][22]. Lý thuyết của Chủ nghĩa Hiện thực về cạnh tranh giữa các nước lớn Nội dung chính của Chủ nghĩa Hiện thực là: lợi ích là yếu tố căn bản trong quan hệ quốc tế và được đảm bảo bằng quyền lực. Quan hệ quốc tế được mô tả như một cuộc cạnh tranh giành quyền lực giữa các nước theo đuổi lợi ích quốc gia, xung đột là bản chất của quan hệ quốc tế.
Các nước lớn luôn tìm mọi cách làm thay đổi cục diện thế giới đồng thời tác động, gây ảnh hưởng tới các nước đang phát triển, các nước nhỏ hơn mình, hi sinh quyền lợi của các nước nhỏ để thỏa mãn quyền lợi của các nước lớn. Cách hiểu về cạnh tranh ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc tại khu vực ĐNÁ Cạnh tranh ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc tại ĐNÁ được hiểu là hành động ganh đua giữa Mỹ và Trung Quốc để làm gia tăng mức độ ảnh hưởng (quyền lực/lợi ích), sự chi phối của mình đối với khu vực ĐNÁ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa - xã hội. nhằm phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của mỗi nước. Từ cách hiểu trên cho thấy: Mỹ và Trung Quốc sử dụng nhiều/tổng hợp các biện pháp khác nhau (chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, đầu tư, quân sự, an ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ.) với những mức độ/cường độ/tần suất ở từng thời điểm/giai đoạn khác nhau để tăng cường ảnh hưởng, vai trò, chi phối của họ đối với ĐNÁ nói chung và từng nước trong khu vực nói riêng, nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược của mỗi nước.
Trong đó, Mỹ cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc tại ĐNÁ nhằm khẳng định vai trò, vị thế siêu cường số một của Mỹ tại khu vực; thúc đẩy những lợi ích chiến lược của Mỹ như chính trị, an ninh và kinh tế; đồng thời tập hợp lực lượng bao vây, kiềm chế Trung Quốc, không để bất kỳ cường quốc nào đe dọa đến lợi ích, an ninh của Mỹ. Còn Trung Quốc cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ tại khu vực ĐNÁ 16 z nhằm gia tăng vai trò, vị thế của Trung Quốc ở khu vực; đảm bảo quốc phòng, an ninh ở phía Nam; thúc đẩy các lợi ích kinh tế; tạo điều kiện triển khai các chiến lược khu vực của Trung Quốc. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, mục tiêu chính là tìm ra những tác động, ảnh hưởng từ cạnh tranh ảnh hưởng của quan hệ Mỹ - Trung đến Việt Nam trên tổng thể các vấn đề liến quan đến an ninh, quốc phòng. Những nhân tố thúc đẩy cạnh tranh Mỹ - Trung ở ĐNÁ những năm đầu thế kỷ XXI 1.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc Thứ nhất, bước sang thế kỷ XXI, sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc tiếp tục được gia tăng và trên nhiều góc độ, Trung Quốc đã hoàn thành việc thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực với sự gia tăng nhanh chóng về năng lực và tài sản của nước này thời gian qua. Với sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự không ngừng gia tăng, Trung Quốc đã và đang thực hiện mục tiêu phát huy ảnh hưởng quốc tế của mình là: sớm trở thành một cường quốc khu vực và thế giới trong một thế giới đa cực, đa trung tâm; phải đóng vai trò lãnh đạo ở khu vực CÁ - TBD và trên thế giới trong tương lai không xa. Trong nhiều thập niên, Trung Quốc cố gắng vục dậy trở thành “con hổ” của thế giới trên hai cơ sở, tích lũy sức mạnh kinh tế và quân sự [8]. Thứ hai, trên cơ sở sức mạnh tổng hợp ngày càng tăng, Trung Quốc ra sức phát huy vai trò cường quốc mới nổi của mình tham gia ngày càng tích cực vào các vấn đề khu vực và thế giới như: tận dụng quyền phủ quyết ở Liên hợp quốc; đẩy mạnh thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với rất nhiều quóc gia, kể cả các quốc gia đồng minh với Mỹ và các tổ chức khu vực, tạo điều kiện cho Trung Quốc hiện diện khắp nơi trên thế giới, cả ở sân sau của Mỹ.
Trong quan hệ với các nước đang phát triển, Trung Quốc đưa ra quan điểm hợp tác cùng thắng; đóng vai trò dẫn dắt trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên, lập Diễn đàn Bắc Ngao, tăng cường quan hệ với Nga và các nước Trung Á, thách 17 z thức NATO và gần đây là triển khai Sáng kiến BRI nhằm định hình lại trật tự thế giới phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Trong quan hệ với các nước lớn, trước hết Mỹ đặt luật chơi thông qua việc đưa ra lý luận về quan hệ nước lớn kiểu mới và buộc Mỹ phải chấp nhận. Trong khi Mỹ vẫn coi trọng các liên kết kinh tế song phương, Trung Quốc tích cực tham gia vào tất cả các hình thức khác nhau của FTA nhằm mở rộng cơ hội đầu tư và mậu dịch ra toàn khu vực và thế giới. Thứ ba, vào năm 2010, Trung Quốc đã chính thức trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới chỉ sau Mỹ sau khi đã chính thức vượt qua Nhật Bản về chỉ số GDP.
Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 11/2012) được coi là cuộc chuyển giao thế hệ lãnh đạo lớn nhất trong 30 năm qua. Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình giữ vai trò lãnh đạo Trung Quốc trong giai đoạn mới. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc thực hiện một loạt cải cách quan trọng, trong đó chuyển từ “giấu mình chờ thời” sang “trỗi dậy hòa bình”, thực hiện “Giấc mông Trung Hoa”, triển khai sáng kiến BRI, thành lập AIIB… [14][46] 1. Chiến lược xoay trục sang CÁ - TBD của Mỹ Tháng 10/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Ngoại trưởng Mỹ khi đó là bà Hillary Clinton lần lượt tuyên bố chiến lược “xoay trục” sang CÁ - TBD là để đảm bảo và duy trì vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ.
Những mục tiêu của kế hoạch được giới chức Mỹ mô tả là can dự về kinh tế và quan tâm thường xuyên tới các thể chế khu vực và bảo vệ các nguyên tắc và luật pháp quốc tế.