Chương 1: Phần giới thiệu tổng quan: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận: trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các lý thuyết nền có liên quan, mô hình nghiên cứu. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: nguồn thu thập dữ liệu, loại dữ liệu, cách đo các biến, kiểm chứng mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bình luận: kết quả phát triển, phân tích và kiểm định mô hình, nêu ý nghĩa biến số và kết quả.
Chương 5: Kết luận: rút kết vấn đề đặt ra và có nhận xét chung về đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2. Các khái niệm nghiên cứu 2. Bất ổn kinh tế vĩ mô và chỉ số GDP Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô tại một nền kinh tế.
Theo Azam (2001), bất ổn kinh tế vĩ mô là những biến động theo chiều hướng xấu đối với tình hình kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế. Bất ổn kinh tế vĩ mô được đánh giá bởi các biến động của một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm tăng trưởng, lạm phát, thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối. Tình trạng “bất ổn kinh tế vĩ mô” là tình trạng không nên xuất hiện trong một nền kinh tế do những tác động xấu có thể gây ra đối với tăng trưởng và phát triển (Elbadawi và Schmidt-Hebbek, 1998). Như vậy, có thể thấy bất ổn kinh tế vĩ mô gắn liền với sự chuyển biến xấu đi của các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, được biểu hiện và theo dõi theo thời gian thông qua sự kết hợp các biến số như lạm phát, thâm hụt ngân sách, biến động tỷ giá, dự trữ ngoại hối…1 Theo nghiên cứu của Christopher F.
Baum và nhóm tác giả (2005) để ước lượng các biến đại diện cho bất ổn kinh tế vĩ mô gồm bốn biến bất ổn (kí hiệu MU): GDP thực, chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ suất sinh lợi chỉ số chứng khoán Việt Nam (VNindex). Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tác giả chọn biến GDP để khảo sát vì GDP là đại diện cơ bản nhất cho nền kinh tế. Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh, “Bất ổn kinh tế vĩ mô Việt Nam nhìn từ 1 chính sách tiền tệ”, Phát triển Khoa học & Công nghệ, Vol.
7 GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành. Sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ nào thì lấy giá của thời kỳ đó. Do vậy còn gọi là GDP theo giá hiện hành 𝑡 𝑛 𝑡 𝑡 𝐺𝐷𝑃𝑑𝑎𝑛ℎ 𝑛𝑔ℎĩ𝑎 = ∑𝑖=1 𝑃𝑖 x 𝑄𝑖 ✓ 𝑃𝑖𝑡 : giá sản phẩm i năm t ✓ 𝑄𝑖𝑡 : khối lượng sản phẩm i năm t. Sự gia tăng của GDP danh nghĩa hàng năm có thể do lạm phát.
GDP thực (hay còn gọi là GDP theo giá so sánh) là GDP được tính theo giá của một năm nào đó được gọi là năm gốc. Khi sử dụng giá của năm gốc đã loại trừ yếu tố lạm phát. Yếu tố lạm phát được biểu diễn thông qua chỉ số giá. GDP thực dùng để đánh giá tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, của các ngành, các loại hình, các khu vực, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hàng hóa và dịch vụ mới được tạo ra theo thời gian.
𝑡 𝐺𝐷𝑃𝑡ℎự𝑐 = ∑𝑛𝑖=1 𝑃𝑖0 x 𝑄𝑖𝑡 ✓ 𝑃𝑖0 : giá sản phẩm i năm gốc. ✓ 𝑄𝑖𝑡 : khối lượng sản phẩm i năm t. GDP thực tế được đưa ra nhằm điều chỉnh lại của những sai lệch như sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP. Nắm giữ tiền mặt: Một số dư tiền mặt chỉ ra rằng một công ty có tiền mặt và có thể sử dụng tiền đó theo ý muốn, dưới quyền quyết định của các nhà quản lý.
Khi các công ty có lượng tiền mặt nắm giữ nhiều sẽ hạn chế phát hành cổ phần mới và thay vào đó sẽ sử dụng nguồn tài trợ nội bộ hoặc sẽ điều chỉnh cấu trúc vốn của công ty cũng như có thể thực hiện tốt 2 https://vi.org/wiki/T%E1%BB%95ng_s%E1%BA%A3n_ph%E1%BA%A9m_n%E1%BB %99i_%C4%91%E1%BB%8Ba, lần xem cuối vào ngày 20/04/2017 8 các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng với chủ nợ và cung cấp cho công ty một nguồn tài trợ với các cơ hội đầu tư mới. Lượng tiền mặt trên bảng cân đối kế toán của mỗi doanh nghiệp sẽ được nhà đầu tư hiểu với nhiều các tác động tín hiệu khác nhau: gồm cả tín hiệu tốt và tín hiệu xấu. Dĩ nhiên là nếu hiểu rõ được nguồn hình thành các khoản tiền mặt cho doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp và các kế hoạch mà các nhà quản trị đang dự định thực hiện sẽ giúp nhà đầu tư có cái nhìn chuẩn xác hơn. Các lý thuyết tài chính doanh nghiệp nói rằng mỗi doanh nghiệp nên có một mức tiền mặt thích hợp cho doanh nghiệp mình, một lượng đủ để thanh toán lãi vay, các chi phí và chi tiêu vốn, ngoài ra còn phải dự trữ thêm một ít nữa để doanh nghiệp kịp xử lý trong những tình huống khẩn cấp.
Nhà đầu tư có thể tính toán chỉ số thanh toán hiện hành và chỉ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp để xác định khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn hay không? Dĩ nhiên là các nghĩa vụ này phải trả bằng tiền mặt. Giá trị cổ đông: Ngày nay, khái niệm giá trị cổ đông là một chủ đề nóng trong giới kinh doanh. Áp lực từ những nhà đầu tư giao những khoản lợi nhuận hoàn lại đã nâng giá trị cổ đông thành một vấn đề thách thức các giám đốc điều hành cũng như các giám đốc tài chính ở những công ty niêm yết trên sàn giao dịch. Công ty được sở hữu chủ yếu bởi các cổ đông, những người đã mua cổ phiếu với mong muốn tích trữ khoản tiền và hi vọng có một khoản lợi nhuận tài chính trong tương lai.
Người quản lý sẽ thay mặt các cổ đông điều hành công việc, và làm cho các cổ đông cảm thấy hài lòng. Chính vì vậy, mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp bây giờ được cụ thể hóa là tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông. Đối với hầu hết các tổ chức, tăng trưởng tạo ra giá trị là sự thách thức đối với chiến lược, và để thành công, các công ty có khả năng trong việc phát triển cái mới, thậm chí có thể ảnh hưởng không tốt tới công việc kinh doanh. Đây là lý do tại sao.
Phần lớn giá cổ phiếu của một công ty điển hình phản ánh kỳ vọng về sự tăng trưởng 9 của các doanh nghiệp hiện nay. Nếu công ty đáp ứng được những kỳ vọng, cổ đông sẽ chỉ kiếm được một khoản lợi nhận bình thường. Tuy nhiên, để mang lại lợi nhuận vượt trội trong dài hạn- mà đó là để tăng trưởng giá cổ phiếu nhanh hơn so với giá cổ phiếu của đối thủ cạnh tranh- các nhà quản lý hoặc phải liên tục vượt qua mong đợi của thị trường của các doanh nghiệp hiện tại hoặc phát triển các doanh nghiệp tạo ra giá trị mới. Đại diện cho giá trị tiền của cổ đông, tác giả có đưa ra 2 biến đại diện là suất sinh lợi vượt trội và giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu.
Lý thuyết nền: Lý thuyết nền của đề tài chủ yếu dựa trên kiến thức về kinh tế vĩ mô, nắm giữ tiền mặt, giá trị tiền của cổ đông nhằm nghiên cứu những vấn đề mang tính tổng thể, tổng quát của nền kinh tế nhằm phân tích, mô tả, nhận định, giải thích các vấn đề kinh tế một cách khách quan và khoa học. Rủi ro và lợi nhuận Lợi nhuận (return) là thu nhập hay số tiền kiếm được từ một khoản đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận (rate of return) là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra. Khi nói đến lợi nhuận tức là nói đến một số tiền kiếm được, còn nói đến tỷ suất lợi nhuận là nói đến con số tỷ lệ phần trăm giữa số tiền kiếm được so với số tiền bỏ ra.
Rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng. Do đó, khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư phải xem xét đến quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro. Điều này có các ý nghĩa như sau: ❖ Nếu hai cơ hội đầu tư có cùng tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng như nhau thì nhà đầu tư sẽ chọn cơ hội đầu tư nào có rủi ro thấp hơn. ❖ Nếu hai cơ hội đầu tư có cùng mức rủi ro như nhau thì nhà đầu tư sẽ chọn cơ hội đầu tư nào có tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cao hơn.
❖ Nhà đầu tư nói chung là ngại rủi ro, do đó, muốn họ đầu tư vào dự án rủi ro thì phải có giá trị tăng thêm như là phần bù rủi ro. 10 Thực tế nhà đầu tư ít khi nào dồn hết toàn bộ tài sản của mình vào một khoản đầu tư duy nhất mà thường đầu tư vào một danh mục bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau, gọi là danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro phi hệ thống của từng khoản đầu tư. Danh mục đầu tư (portfolio) là sự kết hợp của hai hay nhiều chứng khoán hoặc tài sản khác nhau trong đầu tư. Vấn đề đặt ra là khi nhà đầu tư kết hợp đầu tư vào nhiều tài sản khác nhau thay vì đầu tư vào một tài sản cá biệt thì lúc này nhà đầu tư vẫn sẽ đối mặt với rủi ro của thị trường chung, hay còn gọi là rủi ro hệ thống.