Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế "Tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lương Thị Ngọc Oanh thực hiện tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh và PGS. Chu Tiến Quang (chuyên ngành Kinh tế phát triển, mã số 62 31 01 05, bảo vệ năm 2016).
Bình đẳng giới được xác lập là mục tiêu thứ ba trong tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG 3) tại Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000, có 147 quốc gia ký cam kết thực hiện. Xét từ góc độ quyền con người, bình đẳng giới bảo đảm các quyền cơ bản về sức khỏe, giáo dục, điều kiện sống và an ninh; từ góc độ kinh tế - xã hội, việc giảm bất bình đẳng giới là thước đo tiến bộ xã hội. Các nghiên cứu định lượng quốc tế như của Abu-Ghaida và Klasen (2004) đã chỉ ra rằng 45 quốc gia không đạt mục tiêu bình đẳng giới về giáo dục đã chịu tổn thất từ 0,1 đến 0,3 điểm phần trăm tăng trưởng kinh tế, số con trên mỗi phụ nữ tăng thêm 0,1 đến 0,4, tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi tăng thêm 1,5% và tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tăng 2,5%.
Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020 (Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010). Mặc dù Báo cáo Phát triển Con người năm 2012 của UNDP ghi nhận chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam xếp thứ 48 trên 131 quốc gia, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi:
- Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt 24,4%, thấp hơn đáng kể so với Thụy Điển (44,7%), Phần Lan (42,5%) và Nam Phi (41,1%).
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới là 73,2%, thấp hơn mức 81,2% của nam giới.
- Tỷ lệ hoàn thành giáo dục trung học trở lên ở nữ là 24,7% so với 28% ở nam (trong khi các nước như Pháp, Anh, Canada đạt xấp xỉ 100%).
- Tỷ lệ tử vong mẹ khi mang thai và sinh con là 59 trên 100.000 lượt sinh, cao hơn nhiều so với Estonia (2), Singapore (3), hay Úc (7).
- Về quyền tài sản, theo UN Women (2013), nữ giới chỉ đứng tên trên 20% giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà, so với 52% của nam giới và 18% đồng đứng tên.
- Tỷ số giới tính khi sinh tăng từ 107,3 bé trai/100 bé gái (năm 2000) lên 113,8 (năm 2013) trên phạm vi cả nước, đặc biệt lên tới 115,5 tại khu vực nông thôn.
Khoảng trống nghiên cứu lớn là việc thiếu vắng một công trình định lượng toàn diện quy mô quốc gia kết hợp cả hai cấp độ vĩ mô và vi mô về tác động của bất bình đẳng giới đối với hai trụ cột cốt lõi của phát triển là tăng trưởng kinh tế và phát triển con người tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách cho giai đoạn 2016–2025.
- Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận về tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế, phát triển con người và phương pháp đánh giá.
- Đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm; đo lường tác động của các bất bình đẳng này tới tăng trưởng kinh tế và phát triển con người tại Việt Nam.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới và đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm thúc đẩy phát triển.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu:
- (1) Thực trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm ở Việt Nam như thế nào?
- (2) Bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm có tác động như thế nào tới tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Việt Nam?
- (3) Những yếu tố nào ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm ở Việt Nam? Cần những chính sách nào can thiệp vào bất bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm và các tác động của nó để thúc đẩy phát triển ở Việt Nam trong thời gian tới?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu:
- H1: Bất bình đẳng giới trong giáo dục tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế.
- H2: Bất bình đẳng giới trong việc làm tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế.
- H3: Bất bình đẳng giới trong giáo dục tác động tiêu cực tới giáo dục cho thế hệ sau.
- H4: Bất bình đẳng giới trong giáo dục tác động tiêu cực tới chăm sóc sức khỏe gia đình.
- H5: Bất bình đẳng giới trong việc làm tác động tiêu cực tới giáo dục cho thế hệ sau.
- H6: Bất bình đẳng giới trong việc làm tác động tiêu cực tới chăm sóc sức khỏe gia đình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của bất bình đẳng giới (trên hai phương diện giáo dục và việc làm) tới phát triển (thể hiện qua tăng trưởng kinh tế và phát triển con người) ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Giới hạn ở giáo dục và việc làm (đối với bất bình đẳng giới) và tăng trưởng kinh tế (đo bằng GDP) cùng phát triển con người (đo bằng đầu tư giáo dục cho con và chăm sóc sức khỏe gia đình).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam (phân tích cấp tỉnh đối với vĩ mô và cấp hộ gia đình/cá nhân đối với vi mô).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu thu thập trong giai đoạn 2000–2012 (các công bố chính thức cập nhật đến tháng 6 năm 2015); định hướng giải pháp hướng tới giai đoạn 2016–2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lý thuyết và thực nghiệm quốc tế cho thấy các hướng tiếp cận chính:
Các nghiên cứu lý thuyết:
- Tác động tới tăng trưởng kinh tế: Tiếp cận dựa trên mô hình tăng trưởng Tân cổ điển Solow (Barro và Lee, 1994; Dollar và Gatti, 1999; Klasen và Lamanna, 2009; Braunstein, 2007). Các tác giả Klasen và Lamanna (2009) chỉ ra rằng bất bình đẳng giáo dục làm giảm vốn nhân lực trung bình của nền kinh tế do trẻ em gái có năng lực thiên bẩm tốt bị tước bỏ cơ hội học tập; đồng thời làm giảm lợi ích kinh tế cận biên của đầu tư giáo dục. Giáo dục nữ tạo ngoại ứng tích cực làm giảm mức sinh, giảm tỷ lệ tử vong trẻ em và tăng vốn nhân lực thế hệ tương lai, mở ra cơ hội "dân số vàng". Về việc làm, Volart (2004) lập luận rằng rào cản tham gia thị trường lao động và quản lý của phụ nữ làm suy giảm quỹ nhân tài của doanh nghiệp, cản trở đổi mới công nghệ. Ngân hàng Thế giới (2001) và Stotsky (2006) chứng minh lao động nữ ít có xu hướng tham nhũng hơn, có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn và chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục, y tế. Về khoảng cách tiền lương, có hai luồng ý kiến: Gabor và Weil (1996) cho rằng chênh lệch lương làm giảm sự tham gia của nữ, tăng mức sinh và kìm hãm tăng trưởng dài hạn từ phía cung; ngược lại, Seguino (2000) nhận định chênh lệch lương giúp các nền kinh tế bán công nghiệp định hướng xuất khẩu hạ thấp chi phí đơn vị, nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngắn hạn từ phía cầu.
- Tác động tới phát triển con người: Dựa trên các mô hình kinh tế học vi mô về quyền thương thuyết và phân bổ nguồn lực gia đình (Lundberg và Pollak, 1996; Becker, 1981; Schultz, 1993; Sen, 1999; Thomas và Strauss, 1997; Ferrant, 2011). Học vấn và thu nhập giúp cải thiện quyền thương thuyết của người mẹ, qua đó điều chỉnh cơ cấu ngân sách hộ gia đình theo hướng tăng tỷ trọng chi tiêu cho dinh dưỡng, chăm sóc y tế và giáo dục con cái (Hill và King, 1995; Klasen, 2002; Mikkola, 2005).
Các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế:
- Barro và Lee (1994) hồi quy dữ liệu 116 quốc gia (1965–1985) và nhận được hệ số âm đối với giáo dục nữ, nhưng Dollar và Gatti (1999) đã chứng minh kết quả này bị sai lệch do bỏ sót biến khu vực Mỹ Latinh và đa cộng tuyến; khi khắc phục, giáo dục trung học của nữ tương quan dương với tăng trưởng.
- Klasen và Lamanna (2009) phân tích số liệu mảng và số liệu chéo giai đoạn 1960–2000, khẳng định bất bình đẳng giới trong việc làm và giáo dục đều kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Schober và Winter-Ebmer (2011) kiểm định lại mô hình của Seguino và kết luận rằng mọi khía cạnh bất bình đẳng giới đều tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
- Martin và Garvi (2009) nghiên cứu số liệu cấp tỉnh ở Tây Ban Nha; Pervaiz và cộng sự (2011) phân tích chuỗi thời gian 1972–2009 của Pakistan; Tansel và cộng sự (2012) dùng hàm sản xuất Cobb-Douglas trên số liệu mảng 67 tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ.
- Về phát triển con người: Hill và King (1995) chứng minh tỷ lệ nhập học tiểu học của nữ tăng 10 điểm phần trăm làm giảm tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh 4,1/1.000 ca; tỷ lệ này ở cấp trung học giảm thêm 5,6/1.000; tỷ lệ nhập học nữ/nam dưới 42% làm giảm 4 năm tuổi thọ trung bình của nam giới. Maiga (2011) tại Burkina Faso khẳng định học vấn của mẹ cải thiện chỉ số nhân trắc HAZ và WHZ của trẻ. Lloyd và Blanc (1996) tại 7 nước châu Phi cho thấy trẻ em trong hộ do nữ làm chủ có số năm đi học cao hơn 4 lớp so với hộ do nam làm chủ.
Các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Ngân hàng Thế giới (2008) phân tích định tính tại Hưng Yên, Khánh Hòa và Tiền Giang về tác động tích cực của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng đứng tên vợ chồng.
- Duvvury và Nguyễn Hữu Minh (2012) khảo sát 541 phụ nữ nông thôn và 512 phụ nữ thành thị, ước tính chi phí cơ hội do bạo lực gia đình gây ra chiếm 1,41% GDP của Việt Nam năm 2010.
- Đề tài của TS. Nguyễn Thị Nguyệt (2004) tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương phân tích chênh lệch tiền lương theo giới qua dữ liệu VHLSS 2002 và 2004.
- Nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Hoa về tiếp cận đất sản xuất; Wendy N. (2013) và UNFPA (2013) về nguồn gốc văn hóa, lịch sử của định kiến giới.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Các nghiên cứu đa quốc gia thường mắc sai số do dữ liệu không đồng nhất giữa các nước; kết luận không thể khái quát cho từng thể chế riêng biệt (Bandiera và Natraj, 2013). Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước mới dừng ở thống kê mô tả, phân tích định tính hoặc giới hạn ở các khía cạnh hẹp (đất đai, bạo lực gia đình), chưa có công trình nào đánh giá định lượng đồng thời cả hai kênh vĩ mô (tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh) và vi mô (đầu tư giáo dục, y tế cấp hộ gia đình) bằng hệ thống dữ liệu điều tra mức sống quốc gia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm:
- Giới và bất bình đẳng giới: Giới là tập hợp các vai trò, hành vi và kỳ vọng do xã hội quy định cho nam và nữ. Bất bình đẳng giới bao gồm bốn cấp độ: vai trò giới, khuôn mẫu giới, định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới (theo Luật Bình đẳng giới 2006).
- Các thước đo giới: Sử dụng Chỉ số phát triển giới (GDI), Chỉ số trao quyền cho phụ nữ (GEM) và Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của UNDP.
- Phát triển và các thành tố: Tăng trưởng kinh tế xác định qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Phát triển con người theo quan điểm của Mahbub ul Haq và UNDP phản ánh qua ba phương diện: thu nhập, giáo dục và y tế.
- Khung lý thuyết phân tích: Kết hợp mô hình tăng trưởng kinh tế Tân cổ điển Solow với mô hình quyền thương thuyết và phân bổ nguồn lực gia đình (Lundberg và Pollak, 1996).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp tiếp cận vĩ mô:
- Đơn vị phân tích: 63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam.
- Mô hình kinh tế lượng: Ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) trên số liệu chéo cấp tỉnh để lượng hóa tác động của bất bình đẳng giới tới tăng trưởng kinh tế. Phương trình hồi quy có dạng hàm sản xuất logarit:
$$\ln(GDP_i) = \beta_0 + \beta_1 \ln(K_i) + \beta_2 \ln(L_i) + \beta_3 GDI_i + \beta_k X_{ki} + \varepsilon_i$$
Trong đó biến phụ thuộc là $\ln(GDP)$ cấp tỉnh; biến giải thích chính là chỉ số phát triển giới $GDI$; các biến kiểm soát ($X$) gồm vốn đầu tư ($K$), lao động ($L$), độ mở thương mại, tỷ lệ vốn ngân sách.
- Phân tích tương quan giữa GDI và chỉ số phát triển con người trung bình cấp tỉnh ($HDI$).
- Phương pháp tiếp cận vi mô:
- Đơn vị phân tích: Hộ gia đình và cá nhân.
- Thống kê so sánh và kiểm định T-test về thu nhập bình quân đầu người giữa hộ do nữ làm chủ hộ và hộ do nam làm chủ hộ.
- Hồi quy OLS xác định tác động của trình độ học vấn (số năm đi học, cấp học) và tình trạng việc làm (có việc làm, làm công ăn lương, tự doanh) của bố và mẹ tới hai biến phụ thuộc đại diện cho phát triển con người: chi tiêu cho giáo dục của con cái và chi tiêu chăm sóc sức khỏe của gia đình, kiểm soát các biến đặc điểm hộ gia đình (thu nhập, quy mô gia đình, khu vực thành thị/nông thôn, vùng sinh thái).
- Phương pháp phân rã Blinder-Oaxaca:
- Tách biệt chênh lệch số năm đi học bình quân và khoảng cách tiền lương giữa nam và nữ thành hai phần: phần giải thích được bằng các đặc tính quan sát được (trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, thâm niên, ngành nghề) và phần không giải thích được (phản ánh định kiến giới và phân biệt đối xử trên thị trường lao động).
- Nguồn dữ liệu:
- Bộ số liệu Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) các năm 2002, 2004, 2010 và đặc biệt là VHLSS 2012 do Tổng cục Thống kê (GSO) tiến hành.
- Bộ số liệu Điều tra Lao động và Việc làm (LFS) của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Niên giám thống kê và số liệu kinh tế - xã hội cấp tỉnh của Tổng cục Thống kê.
- Dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức quốc tế: UNDP, Ngân hàng Thế giới (WB), ILO, UN Women, UNFPA.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển và hướng nghiên cứu của luận án
Chương này điểm lại toàn diện hệ thống lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm quốc tế cũng như tại Việt Nam về mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới với phát triển. Tác giả phân loại các nghiên cứu lý thuyết theo hai hướng: tác động tới tăng trưởng kinh tế (qua vốn nhân lực, quy luật lợi tức cận biên giảm dần, ngoại ứng mức sinh và dân số vàng, năng lực cạnh tranh xuất khẩu) và tác động tới phát triển con người (qua mô hình thương thuyết gia đình của Lundberg và Pollak, chi phí cơ hội của thời gian). Chương 1 phân tích các tranh luận học thuật giữa Barro và Lee (1994), Dollar và Gatti (1999), Klasen và Lamanna (2009), Seguino (2000), Schober và Winter-Ebmer (2011). Tại Việt Nam, tác giả điểm qua các nghiên cứu của WB (2008), Duvvury và Nguyễn Hữu Minh (2012), TS. Nguyễn Thị Nguyệt (2004), Nguyễn Quỳnh Hoa, Wendy N., qua đó xác lập khoảng trống nghiên cứu. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nội dung (giáo dục, việc làm - tăng trưởng kinh tế, phát triển con người), phạm vi thời gian (2000–2012, định hướng 2016–2025), xây dựng hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu và 6 giả thuyết (H1 đến H6) cùng sơ đồ tiếp cận vĩ mô - vi mô.
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển
Chương 2 làm rõ nội hàm các khái niệm: giới, bình đẳng giới, bốn mức độ của bất bình đẳng giới (vai trò, khuôn mẫu, định kiến, phân biệt đối xử theo Luật Bình đẳng giới 2006), các thước đo giới (GDI, GEM, GII); khái niệm tăng trưởng kinh tế và các chỉ báo phát triển con người (HDI). Chương này phát triển khung phân tích các kênh dẫn truyền tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế (dựa trên mô hình Solow và hàm sản xuất Cobb-Douglas) và tới phát triển con người (qua hành vi phân bổ chi tiêu gia đình). Về phương pháp luận, tác giả cụ thể hóa phương pháp hồi quy OLS vĩ mô cấp tỉnh giải thích $\ln(GDP)$ qua GDI và các yếu tố đầu vào; phương pháp hồi quy OLS vi mô phân tích tác động của học vấn và việc làm của cha mẹ tới chi tiêu giáo dục và y tế từ số liệu VHLSS; phương pháp kiểm định T-test so sánh thu nhập chủ hộ nam - nữ; và kỹ thuật phân rã Blinder-Oaxaca để phân định yếu tố năng lực và yếu tố phân biệt đối xử trong khoảng cách giáo dục và tiền lương.
Chương 3: Đánh giá thực trạng của bất bình đẳng giới và tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển ở Việt Nam
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm chi tiết qua hệ thống số liệu thống kê mô tả và các mô hình kinh tế lượng:
- Thực trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục: Tỷ lệ biết đọc, biết viết của người dân từ 10 tuổi trở lên có sự cải thiện nhưng nam giới vẫn cao hơn nữ giới (Bảng 3.1). Khoảng cách về trình độ chuyên môn kỹ thuật giữa nam và nữ vẫn duy trì rõ nét trong năm 2011 và 2012 (Bảng 3.2). Số năm đi học bình quân của nam luôn cao hơn nữ ở hầu hết các nhóm tuổi (Đồ thị 3.2, Bảng 3.24).
- Thực trạng bất bình đẳng giới trong việc làm và tiền lương: Giai đoạn 2002–2012 ghi nhận tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam luôn cao hơn nữ khoảng 8 điểm phần trăm (Bảng 3.3). Lao động nữ tập trung lớn ở các ngành thâm dụng lao động phổ thông, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày và dịch vụ cá nhân, trong khi tỷ lệ nắm giữ vị trí quản lý và chuyên môn kỹ thuật bậc cao thấp hơn nam giới (Bảng 3.5, Bảng 3.6). Tiền lương bình quân tháng của nữ luôn thấp hơn nam xuyên suốt giai đoạn 2002–2012 ở tất cả các khu vực kinh tế, nhóm ngành và trình độ chuyên môn kỹ thuật (Bảng 3.7, 3.8, 3.9, 3.10).
Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ báo thực trạng bất bình đẳng giới tại Việt Nam trích xuất từ dữ liệu luận án:
| Khía cạnh quan sát |
Nhóm nam giới |
Nhóm nữ giới |
Chênh lệch / So sánh |
| Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (năm 2012) |
81,2% |
73,2% |
Nam cao hơn 8,0 điểm phần trăm |
| Tỷ lệ hoàn thành giáo dục trung học trở lên |
28,0% |
24,7% |
Nam cao hơn 3,3 điểm phần trăm |
| Tỷ lệ đại biểu Quốc hội |
75,6% |
24,4% |
Nam áp đảo |
| Đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất/nhà |
52,0% |
20,0% |
Nam cao gấp 2,6 lần nữ (đồng đứng tên 18%) |
| Tiền lương bình quân tháng (2002–2012) |
Luôn cao hơn |
Luôn thấp hơn |
Tỷ lệ lương nữ/nam dao động dưới 100% |
| Tỷ số giới tính khi sinh (2013, bé trai/100 bé gái) |
113,8 (toàn quốc) |
100 |
Nông thôn đạt mức báo động 115,5 |
- Tác động vĩ mô tới tăng trưởng kinh tế: Kết quả hồi quy mô hình tăng trưởng cấp tỉnh chỉ ra hệ số của chỉ số phát triển giới GDI có ý nghĩa thống kê và mang dấu dương đối với $\ln(GDP)$ (Bảng 3.13), khẳng định các tỉnh có mức độ bình đẳng giới cao hơn đạt quy mô kinh tế lớn hơn. Đồng thời, phân tích tương quan khẳng định GDI cấp tỉnh tương quan thuận chặt chẽ với chỉ số phát triển con người HDI (Sơ đồ 3.1).
- Tác động vi mô tới phát triển con người:
- So sánh hộ gia đình: Kiểm định T-test cho thấy thu nhập bình quân đầu người của hộ có chủ hộ là nữ không thấp hơn, thậm chí ở một số phân khúc hôn nhân cao hơn hộ có chủ hộ là nam (Bảng 3.14, Bảng 3.15, Phụ lục 9). Các hộ do nữ làm chủ dành tỷ trọng chi tiêu cao hơn cho giáo dục con cái và y tế (Bảng 3.19).
- Kết quả hồi quy OLS: Trình độ học vấn của người mẹ có hệ số tác động dương và có ý nghĩa thống kê lớn hơn so với trình độ học vấn của người bố tới chi tiêu giáo dục của con cái và chăm sóc sức khỏe gia đình (Bảng 3.17). Việc làm và thu nhập của người mẹ tác động trực tiếp và tích cực tới mức độ đầu tư cho giáo dục thế hệ tương lai và phúc lợi y tế hộ gia đình (Bảng 3.18).
- Kết quả phân rã Blinder-Oaxaca:
- Đối với chênh lệch số năm đi học: Phần lớn khoảng cách hình thành do các yếu tố lịch sử, chuẩn mực văn hóa gia đình truyền thống và định kiến xã hội chưa được giải thích bằng đặc tính cá nhân (Bảng 3.25, Phụ lục 6).
- Đối với chênh lệch tiền lương: Phân rã Blinder-Oaxaca chỉ ra một tỷ lệ đáng kể của khoảng cách tiền lương giữa nam và nữ không thể giải thích được bằng sự khác biệt về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm hay ngành nghề, phản ánh sự tồn tại của phân biệt đối xử trên thị trường lao động (Bảng 3.26, Phụ lục 7).
Chương 4: Một số giải pháp giải quyết bất bình đẳng giới và tác động của bất bình đẳng giới nhằm thúc đẩy phát triển ở Việt Nam
Dựa trên bối cảnh hội nhập quốc tế, quá trình công nghiệp hóa và các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp lớn cho giai đoạn 2016–2025:
- Nhóm giải pháp giảm bất bình đẳng giới:
- Xóa bỏ khoảng cách giới trong tiếp cận giáo dục và đào tạo chuyên môn kỹ thuật, chú trọng đào tạo nghề và nâng cao trình độ cho lao động nữ khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số.
- Tạo lập cơ hội việc làm bình đẳng, xóa bỏ các rào cản ngăn ngừa phụ nữ tiếp cận các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, thúc đẩy bổ nhiệm phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp.
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý về tiền lương, kiểm soát tình trạng phân biệt đối xử về thù lao giữa lao động nam và nữ có cùng trình độ và năng suất lao động.
- Nhóm giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của bất bình đẳng giới tới phát triển:
- Tăng cường quyền năng kinh tế và vị thế thương thuyết của phụ nữ trong gia đình thông qua việc thực thi quy định đồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản chung; hỗ trợ phụ nữ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng chính thức.
- Mở rộng hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm y tế hộ gia đình, dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản nhằm giảm gánh nặng chi phí y tế.
- Lồng ghép giới thực chất vào quá trình hoạch định, thẩm định chính sách kinh tế vĩ mô và phân bổ ngân sách nhà nước cấp tỉnh.
- Đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi nhận thức xã hội, bài trừ tư tưởng "trọng nam khinh nữ", ngăn chặn hành vi can thiệp lựa chọn giới tính thai nhi nhằm kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án xây dựng và chuẩn hóa hệ thống biến số đại diện cho bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm phù hợp với hệ thống số liệu thống kê của Việt Nam.
- Thiết lập và kiểm định thành công mô hình đánh giá tác động vĩ mô của bất bình đẳng giới (thông qua chỉ số GDI) tới tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh dựa trên khung hàm sản xuất Tân cổ điển Solow mở rộng.
- Xây dựng mô hình kinh tế lượng vi mô phân tích các kênh dẫn truyền tác động từ trình độ học vấn và tình trạng việc làm của cha mẹ tới hai chỉ báo cốt lõi của phát triển con người là chi tiêu giáo dục cho con và chăm sóc sức khỏe gia đình.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định bình đẳng giới có tương quan dương với quy mô GDP cấp tỉnh và chỉ số phát triển con người HDI tại Việt Nam.
- Chứng minh bằng số liệu VHLSS rằng học vấn và tình trạng việc làm của người mẹ đóng vai trò quyết định hơn so với người bố đối với việc tăng cường đầu tư giáo dục cho con cái và bảo đảm phúc lợi y tế hộ gia đình.
- Ứng dụng kỹ thuật phân rã Blinder-Oaxaca lượng hóa rõ tỷ trọng của yếu tố phân biệt đối xử và định kiến giới trong chênh lệch giáo dục và tiền lương nam - nữ tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách giai đoạn 2016–2025 có tính khả thi, gắn kết mục tiêu giảm bất bình đẳng giới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Nguồn dữ liệu thứ cấp VHLSS và LFS tại thời điểm nghiên cứu mới cập nhật đến năm 2012; số liệu cấp tỉnh về một số biến vốn nhân lực và việc làm còn phân tán; mô hình hồi quy OLS vĩ mô cấp tỉnh trên số liệu chéo chưa thể kiểm soát triệt để toàn bộ các biến nội sinh và biến động thời gian như mô hình số liệu mảng dài hạn; phạm vi phát triển con người mới tập trung ở giáo dục trẻ em và chi tiêu y tế gia đình, chưa bao quát toàn bộ các khía cạnh tâm lý - xã hội.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng cập nhật chuỗi số liệu VHLSS các kỳ điều tra tiếp theo; ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) có lồng ghép yếu tố giới để mô phỏng tác động của các cú sốc chính sách; nghiên cứu chuyên sâu về bất bình đẳng giới trong khu vực kinh tế phi chính thức và tác động của chênh lệch giới tính khi sinh tới cấu trúc thị trường lao động dài hạn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế lao động, Xã hội học và Giới; cán bộ hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cơ quan thống kê.
- Phần nội dung đáng tham khảo:
- Khung phương pháp luận kết hợp phân tích vĩ mô (OLS cấp tỉnh) và vi mô (OLS cấp hộ gia đình).
- Quy trình xử lý và kỹ thuật ước lượng mô hình phân rã Blinder-Oaxaca trên số liệu điều tra mức sống VHLSS (trình bày chi tiết tại các Phụ lục 4, 5, 6, 7).
- Hệ thống dữ liệu tổng hợp về khoảng cách giáo dục, việc làm và tiền lương theo giới giai đoạn 2002–2012 tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những chỉ số nào để đo lường bất bình đẳng giới và phát triển ở cấp độ vĩ mô?
Luận án sử dụng Chỉ số phát triển giới (GDI), Chỉ số trao quyền cho phụ nữ (GEM) và Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của UNDP để đo lường bình đẳng giới; sử dụng Tổng sản phẩm quốc nội ($\ln GDP$) để phản ánh tăng trưởng kinh tế và Chỉ số phát triển con người (HDI) để đo lường mức độ phát triển con người cấp tỉnh.
2. Tranh luận học thuật quốc tế về tác động của chênh lệch tiền lương theo giới tới tăng trưởng kinh tế được giải quyết như thế nào trong luận án?
Luận án chỉ ra hai luồng quan điểm: Seguino (2000) cho rằng chênh lệch lương có lợi cho các nền kinh tế định hướng xuất khẩu nhờ giá rẻ trong ngắn hạn từ phía cầu; trong khi Gabor và Weil (1996) cùng Schober và Winter-Ebmer (2011) khẳng định chênh lệch lương làm giảm tham gia lao động nữ, tăng mức sinh và kìm hãm tăng trưởng dài hạn từ phía cung. Luận án ủng hộ quan điểm dài hạn rằng bất bình đẳng giới gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng và phúc lợi.
3. Số liệu thực trạng tại Việt Nam về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội và tỷ số giới tính khi sinh được ghi nhận ra sao?
Luận án ghi nhận tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam đạt 24,4% (thấp hơn Thụy Điển 44,7% và Phần Lan 42,5%); tỷ số giới tính khi sinh tăng từ 107,3 bé trai/100 bé gái (năm 2000) lên 113,8 (năm 2013) trên toàn quốc và đạt mức 115,5 tại khu vực nông thôn do định kiến "trọng nam khinh nữ" và lạm dụng công nghệ lựa chọn giới tính.
4. Vì sao luận án giới hạn phạm vi bất bình đẳng giới ở hai khía cạnh giáo dục và việc làm?
Tác giả lý giải: (i) Giáo dục và việc làm là phương tiện cốt lõi để trang bị và sử dụng năng lực con người theo mục tiêu phát triển của Todaro; (ii) Giáo dục và việc làm trực tiếp hình thành và sử dụng vốn nhân lực – yếu tố đầu vào thiết yếu cho nền kinh tế tri thức; (iii) Các can thiệp chính sách vào giáo dục và việc làm có khả năng thể chế hóa và thực thi cao nhất.
5. Kết quả phân rã Blinder-Oaxaca trong luận án mang lại phát hiện thực nghiệm gì?
Kỹ thuật phân rã Blinder-Oaxaca cho thấy phần lớn khoảng cách về số năm đi học và một phần đáng kể chênh lệch tiền lương giữa nam và nữ tại Việt Nam không thể giải thích được bằng năng lực chuyên môn, kinh nghiệm hay vị trí công việc, mà xuất phát từ các định kiến giới truyền thống và sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động.
Kết luận
Luận án của tác giả Lương Thị Ngọc Oanh là một công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển, giải quyết thỏa đáng câu hỏi về tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Việt Nam. Thông qua việc kết hợp mô hình kinh tế lượng Tân cổ điển ở cấp độ vĩ mô và mô hình phân bổ nguồn lực hộ gia đình cùng phân rã Blinder-Oaxaca ở cấp độ vi mô, luận án đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm vững chắc về tác động tiêu cực của bất bình đẳng giới. Các phát hiện của luận án khẳng định vai trò then chốt của vốn nhân lực nữ đối với sự phát triển bền vững và cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác hoạch định chính sách bình đẳng giới tại Việt Nam.