Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này tác giả sẽ cho thấy lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây về sự tác động của cú sốc ngoại sinh vào lạm phát. Trong chương này, tác giả sẽ tóm tắt các nghiên cứu trước đây về tác động của cú sốc ngoại sinh vào chỉ số giá của một quốc gia. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của đề tài, tác giả trình bày phương pháp sử dụng để thực hiện bài nghiên cứu. Cách tính các biến và nguồn dữ liệu của bài nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, thông qua kết quả nghiên cứu tác giả phân tích so sánh kết quả nghiên cứu của tác giả với những nghiên cứu trước đây trên thế giới về cú sốc ngoại sinh tác động đến lạm phát và lần lượt trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra ở phần mục tiêu nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, tác giả trình bày một cách ngắn gọn những gì tác giả phát hiện thông qua nghiên cứu. Đóng góp của luận văn Thứ nhất, luận văn góp phần cung cấp thông tin tổng quan hơn về tác động của cú sốc ngoại sinh cụ thể là giá dầu, tỷ giá và chỉ số giá nhập khẩu tác động đếnLUAN TIEU lạm phátMOI tại Việtdownload Nam là như thế:nào trong giai đoạn nghiên cứu.com 5 Thứ hai, luận văn đã xác định được xu hướng biến động của các cú sốc ngoại sinh vào chỉ số giá ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Thứ ba, thực hiện chức năng phân rã phương sai, cú sốc ngoại sinh giải thích bao nhiêu phần trăm trong sự biến động của lạm phát ở Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC NGOẠI SINH VÀO LẠM PHÁT 2. Nền tảng lý thuyết 2. Thế nào là cú sốc ngoại sinh và thế nào là truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT). Cú sốc ngoại sinh là sự thay đổi của các nhân tố bên ngoài quốc gia tác động đến tình hình kinh tế của một quốc gia đó.
Hay nói một cách dễ hiểu, đó là sự truyền dẫn của các nhân tố bên ngoài như tỷ giá, giá dầu đến các biến số vĩ mô trong nước. Calvo, Leiderman and Reinhart (1993) đã tìm thấy những cú sốc ngoại sinh có tác động đáng kể đến tỷ giá hối đoái thực của các nước ở Châu Mỹ Latinh giai đoạn 1988-1991. Jonathan McCarthy (2000) nghiên cứu tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu đến chỉ số giá trong nước (PPI, CPI) ở những quốc gia phát triển và tác giả sử dụng mô hình VAR để phân tích sự tương quan của sự biến động của tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu đến chuỗi các chỉ số giá ở các nước phát triển. Olivei (2002) cho rằng truyền dẫn tỷ giá hối đoái như là sự tác động của sự thay đổi tỷ giá đến giá nhập khẩu (tính trên đồng nội tệ) đối với những quốc gia có quan hệ xuất nhập khẩu với nhau.
Hay nói cách khác là 1% thay đổi của tỷ giá hối đoái sẽ tác động như thế nào đến sự thay đổi giá nhập khẩu. Nkunde Mwase (2006) có định nghĩa rộng hơn về truyền dẫn tỷ giá hối đoái chính là sự thay đổi của giá cả hàng hóa trong nước như thế nào khi có sự thay đổi 1% của cú sốc tỷ giá. Rudrani Bhattacharya, Ila Patmaik, Ajay Shah (2008) trong nghiên cứu của mình đã định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa trong nước (domestic prices)- giá nhập khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng và cả giá hàng hóa xuất khẩu- được xác định bởi các nhà nhập khẩu trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nước khi có sự thay đổi 1% của biến động tỷ giá hối đoái. Như vậy, qua những nghiên cứu đã nêu tác giả khái quát định nghĩa truyền dẫn tỷ giá như sau: “ truyền dẫn tỷ giá là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa nội địa- chỉ số giá nhập khẩu (IMP), chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI)- khi có sự thay đổi một phần trăm (1%) của cú sốc tỷ giá”.
Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá và phương thức tác động của các cú sốc từ bên ngoài đến các biến số vĩ mô trong nước. Theo Lafleche (1996) cho rằng những thay đổi của TGHĐ sẽ ảnh hưởng tỷ lệ lạm phát qua hai kênh cơ bản là: trực tiếp và gián tiếp. Có ít nhất 2 kênh chuyển dịch tỷ từ giá hối đoái vào giá cả trong nước: trực tiếp và gián tiếp, được tóm tắt trong một sơ đồ sau: Hình 2. Các kênh chuyển dịch tỷ giá hối đoái Sụt giảm tỷ giá Kênh trực tiếp Kênh gián tiếp Giá đầu vào nhập Giá hàng hóa Nhu cầu nội địa Nhu cầu nước khẩu tăng nhập khẩu tăng đối với hàng hóa ngoài đối với hàng nội địa tăng nội địa tăng Chi phí sản xuất tăng Sản xuất hàng hóa thay thế nội địa tăng Giá tiêu dùng tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Kênh truyền dẫn trực tiếp: Những thay đổi trong tỷ giá hối đoái được truyền dẫn vào giá tiêu dùng thông qua những thay đổi trong giá nhập khẩu của hàng hóa trung gian và hàng hóa cuối cùng.
Khi nội tệ giảm giá, giá của hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ sẽ tăng lên. Trong trường hợp hàng hóa trung gian được nhập khẩu, giá tăng sẽ làm tăng chi phí biên, dẫn đến giá cả hàng hóa được sản xuất trong nước sẽ tăng. Các nghiên cứu thực nghiệm thường chia kênh truyền dẫn trực tiếp làm hai giai đoạn để nghiên cứu. Giai đoạn thứ nhất bao gồm những thay đổi trong tỷ giá hối đoái được truyền dẫn vào giá cả đầu vào nhập khẩu.
Giai đoạn thứ hai bao gồm những thay đổi trong tỷ giá hối đoái được truyền dẫn vào giá nhập khẩu sau đó theo chuỗi phân phối, truyền dẫn vào giá sản xuất và cuối cùng ảnh hưởng đến giá tiêu dùng. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng giá nhập khẩu nhạy với những thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa hơn so với giá tiêu dùng nói chung (Obstfeld và Rogoff, 2000). Kênh truyền dẫn gián tiếp: sự giảm giá của đồng nội tệ ảnh hưởng đến giá xuất khẩu vì hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn trong thị trường nước ngoài. Làm tăng nhu cầu nước ngoài đối với hàng hóa trong nước dẫn đến áp lực làm tăng giá cả trong nước (Hyder và Shah, 2004).
Hiện tượng này được gọi là “sự thay thế bên ngoài”. Sự giảm giá của đồng nội tệ làm giá nhập khẩu của hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian tăng lên tính bằng nội tệ, làm tăng nhu cầu của hàng hóa thay thế trong nước (sự thay thế bên trong), gây ra áp lực tăng giá của hàng hóa thay thế trong nước (Dobrynskaya và Levando, 2005). Cơ sở lý thuyết của sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái là lý thuyết ngang giá sức mua. Theo lý thuyết ngang giá sức mua, có sự chuyển dịch hoàn toàn những thay đổi trong tỷ giá hối đoái vào giá cả trong nước (Dobrynskaya và Levando, 2005).
Các nhà kinh tế học sử dụng 3 khái niệm để giải thích tại sao hàng hóa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 của một nước có giá cả bằng với giá cả của hàng hóa tương tự ở một nước khác. Quy luật một giá nói đến những hàng hóa riêng lẻ. Ngang giá sức mua tuyệt đối nói đến toàn bộ hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế. Và ngang giá sức mua tương đối nói đến sự thay đổi trong giá cả của hàng hóa.
Luật một giá là khái niệm đơn giản nhất về ngang giá sức mua. Luật một giá cho rằng giá cả của những hàng hóa tương tự nhau, khi tính bằng một đồng tiên chung tại mức tỷ giá hiện hành, ở cả hai thị trường phải ngang bằng nhau với giả định là không tồn tại chi phí giao dịch và thuế quan trong việc trao đổi mậu dịch giữa hai thị trường. Nếu có một sự chênh lệch trong giá cả giữa hai thị trường thì sẽ xuất hiện hành vi kinh doanh chênh lệch giá. Người ta sẽ mua hàng hóa ở thị trường có mức giá thấp và bán lại hàng hóa đó ở thị trường có mức giá cao hơn.
Điều này sẽ làm cho giá cả ở thị trường có mức giá thấp tăng lên và giá cả tại thị trường có mức giá cao sẽ giảm xuống cho đến khi giá cả hàng hóa ở hai thị trường bằng nhau. Công thức mô tả luật một giá như sau: PA = E. P∗A Với E là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, được đo lường bằng những đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ. PA là mức giá mặt hàng A ở trong nước.
PA* là mức giá mặt hàng A ở nước ngoài. Luật một giá thường được sử dụng để xem xét sự chuyển dịch cho những hàng hóa đơn lẻ được mua bán giữa các quốc gia (Campa và Goldberg, 2002). Ngang giá sức mua tuyệt đối mở rộng cơ sở lý luận của luật một giá. Lý thuyết ngang giá sức mua tuyệt đối cho rằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa hai đồng tiền phải bằng với tỷ lệ tổng mức giá cả giữa hai quốc gia.
P∗ Với E là tỷ giá hối đoái danh nghĩa. P là giá cả của rổ hàng hóa trong nước. P * là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 giá cả của rổ hàng hóa nước ngoài. Giả định rằng hai rổ hàng hóa này được cấu thành bởi những loại hàng hóa và dịch vụ tương tự có tỷ trọng tham gia vào rổ hàng hóa như nhau.
Ngang giá sức mua tương đối cho rằng giá trị của ngoại tệ tăng lên hay giảm xuống một lượng bằng với sự chênh lệch giữa lạm phát trong nước và lạm phát nước ngoài Gọi Ih là mức lạm phát trong nước, If là mức lạm phát nước ngoài, ef là phần trăm thay đổi trong giá trị của đồng ngoại tệ, như vậy: Nếu ngang giá sức mua tồn tại, nội tệ giảm giá 1% (ngoại tệ tăng giá 1%) thì chỉ số giá trong nước sẽ tăng 1% (nếu các yếu tố khác không đổi). Hiện tượng này gọi là sự chuyển dịch hoàn toàn (complete pass-through). Trong thực tế, sự chuyển dịch của những thay đổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa vào giá cả trong nước là không hoàn toàn (incomplete pass-through). Đã có nhiều công trình nghiên cứu giải thích sự chuyển dịch không hoàn toàn.