Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng tại việt nam luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng

Tổng hợp kiến thức Tác động của chính sách tiền tệ và an toàn vĩ mô đến ổn ..., tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

207
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN ÁN

ABSTRACT

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU – HÌNH VẼ

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.7. CÁC ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

1.8. KẾT CẤU LUẬN ÁN

1.9. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.9.1. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1.9.1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ
1.9.1.2. Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.9.1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ

1.9.2. CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ

1.9.2.1. Tổng quan về chính sách an toàn vĩ mô
1.9.2.2. Các công cụ của chính sách an toàn vĩ mô

1.9.3. ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG

1.9.3.1. Khái niệm ổn định ngân hàng
1.9.3.2. Vai trò và ý nghĩa của ổn định ngân hàng
1.9.3.3. Phương pháp đo lường ổn định ngân hàng
1.9.3.4. Một số lý thuyết nền tảng về ổn định ngân hàng

1.10. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ ĐẾN ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG

1.10.1. Tác động của chính sách tiền tệ đến ổn định ngân hàng

1.10.2. Tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng

1.10.3. Sự tương tác giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng

1.11. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.11.1. Tổng quan các nghiên cứu về ổn định ngân hàng

1.11.2. Các nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ đến ổn định ngân hàng

1.11.3. Các nghiên cứu về tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng

1.11.4. Các nghiên cứu về tác động chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng

1.12. KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.3. MÔ TẢ BIẾN TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.3.1. Ổn định ngân hàng

2.3.2. Các biến đại diện cho chính sách tiền tệ

2.3.3. Các biến đại diện cho chính sách an toàn vĩ mô

2.3.4. Các biến tương tác giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô

2.3.5. Các biến kiểm soát về đặc thù ngân hàng

2.3.6. Các biến đại diện về kinh tế vĩ mô

2.4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.5. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MÔ TẢ THỐNG KÊ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.2. MÔ TẢ THỐNG KÊ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.3. Ổn định ngân hàng

3.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.4.1. Kết quả nghiên cứu tác động chính sách tiền tệ đến ổn định ngân hàng

3.4.2. Kết quả nghiên cứu tác động chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng

3.4.3. Kết quả nghiên cứu tác động chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng

3.4.4. Kết quả nghiên cứu tác động của các biến kiểm soát đến ổn định ngân hàng

3.5. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

3.6.1. HÀM Ý CHÍNH SÁCH

3.6.1.1. Đối với Chính phủ - Ngân hàng nhà nước
3.6.1.2. Đối với ngân hàng thương mại

3.6.2. HẠN CHẾ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

BẢNG TỔNG HỢP CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Chính sách tiền tệ và ổn định ngân hàng

Chính sách tiền tệ (CSTT) đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định ngân hàng. Luận án phân tích tác động của CSTT thông qua các công cụ như lãi suất tái chiết khấu và cung tiền M2. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc tăng cung tiền M2 hoặc tăng lãi suất tái chiết khấu đều làm gia tăng bất ổn ngân hàng. Điều này cho thấy CSTT mở rộng hoặc thắt chặt đều có thể gây ra rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cần cân nhắc kỹ lưỡng khi điều chỉnh các công cụ này để đảm bảo ổn định tài chính.

1.1. Tác động của cung tiền M2

Cung tiền M2 là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế. Khi NHNN tăng cung tiền M2, điều này có thể kích thích tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng rủi ro thanh khoản và rủi ro hệ thống trong ngân hàng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc tăng cung tiền M2 trong giai đoạn 2008-2018 đã làm giảm ổn định ngân hàng tại Việt Nam.

1.2. Tác động của lãi suất tái chiết khấu

Lãi suất tái chiết khấu là công cụ chính của CSTT. Khi NHNN tăng lãi suất này, các ngân hàng thương mại (NHTM) phải đối mặt với chi phí vốn cao hơn, dẫn đến giảm khả năng cho vay và tăng rủi ro tín dụng. Điều này làm gia tăng bất ổn ngân hàng. Nghiên cứu khuyến nghị NHNN nên duy trì lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ ổn định tài chính.

II. Chính sách an toàn vĩ mô và ổn định ngân hàng

Chính sách an toàn vĩ mô (CSATVM) được thiết kế để giảm thiểu rủi ro hệ thống và đảm bảo ổn định tài chính. Luận án tập trung vào các công cụ như tỷ lệ an toàn vốn, hệ số thanh khoản và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi. Kết quả cho thấy, việc thắt chặt CSATVM thông qua tăng tỷ lệ an toàn vốn và giảm tỷ lệ cho vay trên tiền gửi đã cải thiện ổn định ngân hàng. Ngược lại, nới lỏng CSATVM làm tăng bất ổn định ngân hàng.

2.1. Tỷ lệ an toàn vốn

Tỷ lệ an toàn vốn là chỉ số quan trọng đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro của NHTM. Khi NHNN yêu cầu tăng tỷ lệ này, các ngân hàng buộc phải duy trì mức vốn dự trữ cao hơn, giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng và rủi ro hệ thống. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc tăng tỷ lệ an toàn vốn trong giai đoạn 2008-2018 đã góp phần cải thiện ổn định ngân hàng.

2.2. Hệ số thanh khoản

Hệ số thanh khoản phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Khi NHNN yêu cầu tăng hệ số này, các NHTM phải duy trì lượng tiền mặt dự trữ lớn hơn, giúp giảm thiểu rủi ro thanh khoản. Điều này góp phần tăng cường ổn định tài chính và giảm bất ổn ngân hàng.

III. Tương tác giữa chính sách tiền tệ và an toàn vĩ mô

Luận án cũng phân tích mối quan hệ tương tác giữa CSTTCSATVM trong việc duy trì ổn định ngân hàng. Kết quả cho thấy, khi NHNN thực hiện CSTT mở rộng đồng thời nới lỏng CSATVM, điều này làm gia tăng bất ổn ngân hàng. Ngược lại, sự phối hợp chặt chẽ giữa hai chính sách này có thể tạo ra hiệu ứng tích cực, giúp duy trì ổn định tài chính.

3.1. Phối hợp chính sách

Việc phối hợp giữa CSTT và CSATVM là yếu tố then chốt để đảm bảo ổn định ngân hàng. Khi NHNN thực hiện CSTT mở rộng, việc thắt chặt CSATVM có thể giúp cân bằng rủi ro và duy trì ổn định tài chính. Nghiên cứu khuyến nghị NHNN cần có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa hai chính sách này.

3.2. Tác động kép

Khi CSTT và CSATVM được thực hiện đồng thời, chúng có thể tạo ra tác động kép lên ổn định ngân hàng. Ví dụ, CSTT mở rộng kết hợp với CSATVM thắt chặt có thể giúp kích thích tăng trưởng kinh tế mà không làm gia tăng rủi ro hệ thống. Đây là một trong những hàm ý chính sách quan trọng của luận án.

IV. Hàm ý chính sách và kết luận

Luận án đưa ra một số hàm ý chính sách quan trọng. Đối với NHTM, cần nâng cao năng lực tài chính, quản lý chi phí hiệu quả và tăng quy mô hoạt động. Đối với NHNN, cần giảm cung tiền M2, duy trì lãi suất thấp và ban hành chính thức CSATVM. Ngoài ra, NHNN cần tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn 2030.

4.1. Đối với NHTM

Các NHTM cần tập trung vào việc nâng cao năng lực tài chính, quản lý chi phí hiệu quả và tăng trưởng dư nợ cho vay một cách hợp lý. Điều này giúp các ngân hàng đối phó tốt hơn với các biến động của nền kinh tế vĩ mô và duy trì ổn định ngân hàng.

4.2. Đối với NHNN

NHNN cần giảm lượng cung tiền M2 vào nền kinh tế, duy trì lãi suất thấp và ban hành chính thức CSATVM. Đồng thời, NHNN cần tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để đảm bảo ổn định tài chính trong dài hạn.

13/02/2025
Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng tại việt nam luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển với quy mô nhỏ tham gia ngày càng sâu và rộng vào hệ thống kinh tế thế giới. Hệ thống tài chính Việt Nam hiện phát triển ở trình độ thấp với sự phụ thuộc chủ yếu dựa trên sự phát triển của hệ thống ngân hàng (Oanh, Hạc, & Chương, 2017). Đồng thời, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, khả năng phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn vốn bên trong và bên ngoài thông qua hệ thống tài chính, thường nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống ngân hàng.

Do đó, để phát triển kinh tế bền vững, đòi hỏi hệ thống tài chính phải ổn định, để hệ thống tài chính ổn định yêu cầu hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) phải ổn định, bởi ổn định ngân hàng là động lực quan trọng cho tăng trưởng GDP trong tương lai (Jokipii & Monnin, 2013). Mặt khác, cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu xảy ra vào năm 2009 đã chứng minh một cú sốc dường như không đáng kể xảy ra từ một tổ chức tài chính có thể gây nên sự lây lan, dẫn đến hậu quả khôn lường cho hệ thống tài chính một quốc gia thậm chí toàn thế giới (Bernabe Jr, 2012). Cuộc khủng hoảng này đã làm thay đổi tư duy của các ngân hàng trung ương (NHTW) trên thế giới, rằng ổn định giá cả không đủ đảm bảo để duy trì ổn định tài chính. Đồng thời, theo Galati and Moessner (2013), việc thiếu một khuôn khổ phân tích để dự đoán và đối phó với tình trạng mất cân bằng tài chính toàn cầu cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế vĩ mô giai đoạn 2008- 2009.

Thông qua cuộc khủng hoảng này, đã cho thấy những khoảng trống trong chính sách kinh tế vĩ mô hiện thời cũng như hệ thống giám sát tài chính đã không thể giúp phát hiện, ngăn ngừa và xử lý khủng hoảng đúng lúc. Trước đây, khi điều hành chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) thì ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế vĩ mô, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân là các mục tiêu quan tâm hàng đầu của hầu hết Chính phủ các quốc gia. Đến nay, bên cạnh các mục tiêu trên, mục tiêu về ổn định tài chính, an toàn kinh tế vĩ mô cũng được Chính phủ các nước 1 chú trọng. Để thực hiện điều này, các quốc gia trên thế giới đã xây dựng cơ chế phối hợp giữa các chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm CSTT, CSTK là các chính sách kinh tế vĩ mô truyền thống và chính sách an toàn vĩ mô (CSATVM) – là chính sách mà gần đây các quốc gia thường đề cập, để tạo nên thế “kiềng ba chân” trong bộ chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô cũng như ổn định hệ thống tài chính và ổn định ngân hàng.

Trong đó, mục tiêu của CSATVM được xem nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống và các chi phí liên quan tác động đến nền kinh tế thực (Ebrahimi Kahou & Lehar, 2017). Không nằm ngoài xu hướng thế giới, tại Việt Nam, trong những năm gần đây ổn định tài chính trong quản lý kinh tế vĩ mô và ổn định ngân hàng cũng được Chính phủ ngày càng chú trọng1. Công tác đảm bảo an toàn vĩ mô đối với hệ thống tài chính Việt Nam liên quan đến nhiều cơ quan, cụ thể gồm Ngân hàng nhà nước (NHNN), Bộ Tài chính và Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, trong đó Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (được thành lập vào năm 2008) có chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về hoạt động giám sát thị trường tài chính, NHNN và Bộ Tài chính tập trung giám sát chuyên ngành do đơn vị quản lý. Theo phân công của Chính phủ, NHNN có nhiệm vụ ổn định hệ thống tiền tệ, tài chính thông qua xây dựng chính sách đảm bảo ổn định hệ thống tiền tệ, tài chính và thực hiện các biện pháp nhằm ngăn ngừa rủi ro hệ thống trong ngành ngân hàng.

Trên cơ sở này, NHNN thành lập thêm vụ Ổn định tiền tệ - tài chính với chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN trong hoạt động phân tích, đánh giá, thực thi CSATVM của hệ thống tài chính và biện pháp phòng ngừa rủi ro có tính hệ thống của hệ thống tài chính. Như vậy, là đơn vị chủ quản thực hiện hai chính sách, CSTT và CSATVM, liệu hai chính sách này có tác động đến ổn định ngân hàng để NHNN có thể thực hiện thành công đề án tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 và triển khai áp dụng quy định về an toàn theo chuẩn mực quốc tế Basel II với mục đích đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNg) (NHNN, 2017) không? Với các nghiên cứu về CSTT, các nghiên cứu này thường tập trung phân tích (i) cơ chế truyền dẫn CSTT tại các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau trong những giai đoạn, thời kỳ 1 https://bit.ly/2Y45GOW 2 nhất định, như nghiên cứu của Borrallo Egea and Hierro (2019), Buch, Bussierè, Goldberg, and Hills (2019), S. Lee and Bowdler (2019), Anwar and Nguyen (2018), Avdjiev, Koch, McGuire, and von Peter (2018), Neuenkirch and Nöckel (2018), Afrin (2017), H. Khan, Ahmad, and Gee (2016), Mahdi Barakchian (2015), Neuenkirch (2013),…; (ii) tác động của CSTT đến các biến vĩ mô của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, tỷ giá, rủi ro thanh khoản, giá nhà đất, nợ công, lạm phát, bất bình đẳng thu nhập, chỉ số thị trường chứng khoán,…như các nghiên cứu Reed and Ume (2019), Furceri, Loungani, and Zdzienicka (2018), Moran and Queralto (2018), Timmer (2018), Andolfatto and Martin (2018), Mumtaz and Theophilopoulou (2017), Merrouche and Nier (2017), Merrouche and Nier (2017), Sensarma and Bhattacharyya (2016), Berndt and Yeltekin (2015), Ida (2011); (iii) Các nghiên cứu phân tích tác động của CSTT đối với hoạt động của các ngân hàng như nghiên cứu của Avdjiev and Hale (2019), de Moraes and de Mendonça (2019), Abuka, Alinda, Minoiu, Peydró, and Presbitero (2019), Matousek and Solomon (2018), Borio, Gambacorta, and Hofmann (2017), Chen, Wu, Jeon, and Wang (2017), Nguyen Thanh, Huong Vu, and Thu Le (2017), Vithessonthi, Schwaninger, and Müller (2017), Vithessonthi et al.

Với các nghiên cứu liên quan đến tác động của CSTT đến hoạt động ngân hàng, một số nghiên cứu đã nghiên cứu về tác động của chính sách này đến rủi ro ngân hàng như nghiên cứu của de Moraes and de Mendonça (2019), Altunbas et al. (2010a), Chen et al. Đối với các nghiên cứu liên quan đến CSATVM, thông qua khảo lược, cho đến nay, các nghiên cứu này thường tập trung vào các nội dung (i) phân tích khung lý thuyết về CSATVM, như các nghiên cứu của Lim et al. (2011), Galati and Moessner (2013), Claessens (2014), Tomuleasa (2015), BIS (2016), Ebrahimi Kahou and Lehar (2017), Fendoğlu (2017); (ii) đánh giá hiệu quả về CSATVM tại các nền kinh tế khác nhau như các nghiên cứu Akinci and Olmstead-Rumsey (2018), Bruno, Shim, and Shin (2017), Bruno et al.

Lee, Gaspar, and Villaruel (2017), Zhang and Zoli (2016), 3 M. Lee, Asuncion, and Kim (2016), Bruno and Shin (2014), C. Khi nghiên cứu về ổn định ngân hàng, các nghiên cứu hiện tại đang tập trung phân tích (i) các yếu tố ảnh hưởng tổng thể đến ổn định ngân hàng (bank stability) / bất ổn ngân hàng (bank instability), như các nghiên cứu của các tác giả Eichler, Lähner, and Noth (2018), Dwumfour (2017), Ibrahim and Rizvi (2017), Hà and Hướng (2016), Köhler (2015), I. Diaconu and Oanea (2015), R.

Diaconu and Oanea (2014); (ii) tác động của ổn định ngân hàng với các yếu tố nội bộ ngân hàng như rủi ro thanh khoản, cạnh tranh,…như nghiên cứu của Goetz (2018), Jayakumar, Pradhan, Dash, Maradana, and Gaurav (2018), M. Khan, Scheule, and Wu (2017), Fernández, González, and Suárez (2016), Silva Buston (2016), Beck, De Jonghe, and Schepens (2013), Fecht and Wagner (2009), Wagner (2007), Tuyền, Đạo, and Anh (2017); (iii) tác động của ổn định / bất ổn ngân hàng đến các yếu tố liên quan đến nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, biến động kinh tế, khủng hoảng tài chính toàn cầu, bất bình đẳng thu nhập, bảo hiểm tiền gửi,… như các nghiên cứu Wang, Chen, and Xiong (2019), Ahamed and Mallick (2017), Jayakumar et al. (2018), Ghenimi, Chaibi, and Omri (2017), Ngalawa, Tchana, and Viegi (2016), Hou and Wang (2016), Carretta, Farina, Fiordelisi, Schwizer, and Stentella Lopes (2015), Köhler (2015), Fang, Hasan, and Marton (2014), Fang et al. Tóm lại, liên quan đến chủ đề nghiên cứu về tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định ngân hàng, cho đến nay, các nghiên cứu này tập trung ở các khía cạnh gồm: Thứ nhất, các nghiên cứu phân tích tác động của từng chính sách đến ổn định (bất ổn / rủi ro) ngân hàng.

Một số nghiên cứu về tác động của CSTT đến rủi ro ngân hàng / ổn định ngân hàng như nghiên cứu của Altunbas et al. (2010a), de Moraes and de Mendonça (2019), Ngambou Djatche (2019), Malovaná, Kolcunová, and Brož (2019), Chen et al. (2017), Brana, 4 Campmas, and Lapteacru (2018), Paligorova and Santos (2017), Altunbas, Gambacorta, and Marques-Ibanez (2012), Neuenkirch and Nöckel (2018), Angeloni, Faia, and Lo Duca (2015), Altunbas, Gambacorta, and Marques-Ibanez (2010b), Dell'Ariccia, Marquez, and Laeven (2010), hoặc nghiên cứu về tác động của CSATVM đến rủi ro ngân hàng như nghiên cứu của Altunbas et al. Thứ hai, mặc dù đã tồn tại một nghiên cứu về tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định ngân hàng hoặc ổn định tài chính như nghiên cứu của Maddaloni and Peydró (2013), nhưng nghiên cứu này được thực hiện các các quốc gia Châu Âu, đồng thời chỉ tiêu ổn định ngân hàng trong nghiên cứu trên được xác định thông qua kênh cho vay hoặc nghiên cứu của Garcia Revelo, Lucotte, and Pradines-Jobet (2020), Malovaná and Frait (2017).

Tại Việt Nam, đã có nghiên cứu của Trung and Chung (2018) về tác động của CSTT và CSATVM về ổn định tài chính thông qua kênh tăng trưởng tín dụng, nghiên cứu của Lân et al. (2017), về sự phối hợp giữa CSTT với chính sách an toàn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu này vẫn chưa đi sâu phân tích về ổn định ngân hàng. Ngoài ra, cho đến nay, theo khảo lược các nghiên cứu trước, chưa có nghiên cứu nào phân tích về cơ chế phối hợp của CSTT và CSATVM trong việc duy trì ổn định ngân hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ với tiêu đề "Tác động của chính sách tiền tệ và an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng tại Việt Nam" khám phá mối quan hệ giữa các chính sách tiền tệ và các yếu tố an toàn vĩ mô trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các chính sách này ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, từ đó giúp các nhà quản lý và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về các biện pháp cần thiết để bảo đảm sự ổn định tài chính.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, bạn có thể tham khảo tài liệu "Tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng", nơi phân tích vai trò của tài chính toàn diện trong việc củng cố hệ thống ngân hàng.

Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp, tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai" cũng sẽ cung cấp những thông tin hữu ích liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của hệ thống ngân hàng mà còn mở ra cơ hội để bạn nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề tài chính quan trọng trong bối cảnh hiện nay.