Chương I như sau: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”. “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.” “Hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản suất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN”. “Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm”.
“Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc NCKH và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn”. Điều 9, Chương II Luật KH&CN quy định các tổ chức KH&CN bao gồm: - Tổ chức NCKH, tổ chức NCKH và phát triển công nghệ; -18- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trường đại học, học viện, trường cao đẳng; - Tổ chức dịch vụ KH&CN; Hoạt động KH&CN là khái niệm được UNESCO sử dụng để chỉ những hoạt động xã hội được thực hiện bởi một bộ phận xã hội rộng lớn (các nhà khoa học, các nhà công nghệ) có liên quan đến việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phát triển KH&CN [9;73]. Chính sách 1. Định nghĩa Theo nghĩa hẹp, chính sách có thể được thể hiện thông qua, một chương trình, một mục tiêu của chương trình hay sự tác động của chương trình lên một số vấn đề của xã hội, chẳng hạn như chính sách trợ cấp hay chính sách giải quyết yêu cầu của sinh viên về nhà ở, học bổng.
Thuật ngữ “chính sách” được dùng với nghĩa rộng hơn như chính sách đối nội, chính sách đối ngoại. Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất thường xuyên, đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, định nghĩa chính sách lại chưa có một sự thống nhất. Chính sách cũng có thể coi là một kế hoạch hoạt động.
Đó là một bản kế hoạch, được xây dựng công phu, cụ thể chứ không phải là những lời nói, tư duy suy nghĩ ban đầu. Kế hoạch được đưa ra trong bối cảnh, môi trường cụ thể mà nhà làm chính sách đã hình dung ra hoặc do chủ thể xác định (tổ chức, cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, các tổ chức quần chúng, các loại hình doanh nghiệp, v. Theo quan niệm của các nhà chính trị, chính sách là sự bày tỏ quan điểm chính trị của các tổ chức (theo nghĩa rộng của từ này) nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, hay nói cách khác, đó là những quyết định của các tổ chức, cá nhân về những gì họ sẽ làm hay không làm. Còn những nhà quản lý vĩ mô của các tổ chức quan niệm, chính sách là những định hướng tư duy cho các nhà quản lý điều hành, tác nghiệp đưa ra những quyết định cần thiết trong những điều kiện cụ thể của môi trường sản xuất, kinh doanh.
Như vậy, thực chất của chính sách theo cách này chỉ là -19- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những chỉ dẫn cần thiết cho các nhà quản lý tác nghiệp để họ vận dụng vào điều kiện cụ thể, không chỉ ra cách thức tiến hành (các tác nghiệp cụ thể). Theo các quan niệm, chính sách đó là một sự lựa chọn trong tập hợp các phương án khác nhau để đi đến mục tiêu. Trong một cách tư duy cũng được nhiều người thừa nhận, chính sách là bước tiếp theo của chiến lược của các công ty, tập đoàn sản xuất, kinh doanh đề ra và đó là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu những hoạt động cần thiết để đạt được những mục tiêu đề ra. Với tư duy này, chính sách là các chỉ dẫn cụ thể của các nhà hoạch định đề ra các quyết định triển khai chiến lược; là bước nối giữa đường lối, chủ trương chiến lược (vĩ mô) và các hành động cụ thể (dự án, chương trình).
Theo quan niệm của các nhà quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, chính sách là đường lối lãnh đạo, định hướng tư duy cho các nhà quản lý theo mục tiêu cụ thể. Đó không phải là những quy tắc (với tư cách là các quy định cụ thể) bắt buộc các nhà quản lý phải chấp hành. Nói cách khác, chính sách chỉ dẫn, hướng dẫn đưa ra quyết định, còn vấn đề quyết định vẫn thuộc các nhà quản lý điều hành. Tổng hợp những quan niệm trên, tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa về chính sách: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [11;13].
Chính sách công Chính sách công là một thuật ngữ được quan tâm và sử dụng nhiều. Nhiều người cho rằng, chính sách công là những chính sách do nhà nước đưa ra nhằm xác định rõ cái gì nhà nước làm và tại sao nhà nước lại làm những việc đó mà không làm những việc khác cũng như cái giá phải trả cho việc làm đó. Cũng có thể hiểu chính sách công như là một sự phân bổ giá trị mang -20- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính quyền lực của nhà nước cho toàn xã hội và điều mà Chính phủ làm (hay không làm) đều gắn liền với phân bổ giá trị xã hội đó và chỉ có nhà nước mới phân bổ được. Chính sách KH&CN Chính sách KH&CN là một loại chính sách công với các đặc tính trình bày trên đây.
Nó được xây dựng để điều tiết hoạt động KH&CN - một loại hình hoạt động tạo ra động năng phát triển xã hội. Theo UNESCO thì chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp có quan hệ nhân quả nhằm thúc đẩy hoạt động tạo ra tri thức, truyền bá, phổ cập, ứng dụng các tri thức đó cho đổi mới. Còn có nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách KH&CN với cách tiếp cận khác nhau. Có ý kiến cho rằng chính sách KH&CN là tập hợp các mục tiêu và hệ thống các biện pháp (tổ chức, tổ chức - hành chính, tài chính, kinh tế, xã hội, v.v…) để thực hiện các mục tiêu đề ra.
Về phần mình, các mục tiêu cũng được chia ra thành các mục tiêu chiến lược (dài hạn), mục tiêu chiến thuật (ngắn hạn), mục tiêu tổng hợp và mục tiêu cụ thể, mục tiêu toàn cầu và mục tiêu cục bộ (quốc gia), v.v… Theo tác giả Vũ Cao Đàm, chính sách phát triển KH&CN của một đất nước, một địa phương hoặc một hãng, trong đó có những lĩnh vực nghiên cứu và những công nghệ được ưu tiên phát triển theo hai hướng: - KH&CN phục vụ cho những mục tiêu ngắn hạn về phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt là công nghệ phải phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản xuất. - Một mặt khác, KH&CN phải được phát triển đi trước, chuẩn bị cho những mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp hoặc mục tiêu dài hạn của kinh tế và xã hội, bên cạnh những lĩnh vực phải đáp ứng tức thời nhu cầu cạnh tranh của sản xuất [11;16-17]. Khái niệm về đánh giá và xây dựng khung đánh giá chính sách KH&CN 1. Khái niệm đánh giá Định nghĩa của OECD về đánh giá như sau: -21- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Đánh giá là một quá trình xác định giá trị hoặc tầm quan trọng của một hoạt động, chính sách hoặc chương trình, là sự đánh giá ở mức độ hệ thống và khách quan nhất có thể, đối với một can thiệp đã được lập kế hoạch, đang diễn ra, hoặc đã hoàn thành”.
Đánh giá được thực hiện để đánh giá hình thành, đánh giá tổng kết và đánh giá triển vọng đối với các dự án, chương trình, chính sách. Mục đích của đánh giá: Việc đánh giá có thể được dùng cho những mục đích khác nhau. Một cách nhìn nhận mục đích của đánh giá là xem xét mức độ chú ý, chú trọng đến việc học tập, so với mức độ chú ý, chú trọng đến trách nhiệm giải trình. Sử dụng đánh giá: Có nhiều cách sử dụng kết quả đánh giá.
Các đánh giá cung cấp phản hồi về chính sách, chương trình, dự án cho các khách hàng, cơ quan Chính phủ, công chúng và những đối tượng khác. Các kết quả đó có thể cung cấp thông tin về cách thức sử dụng các quỹ công… Kết quả đánh giá có thể: Giúp phân tích nguyên nhân vì sao đạt được hoặc không đạt được những kết quả dự kiến; Tìm ra nguyên nhân đưa lại những kết quả hoặc hệ quả ngoài dự kiến; Đánh giá cách thức và nguyên nhân vì sao những kết quả lại chịu ảnh hưởng của những hoạt động đặc thù; Làm sáng tỏ các quy trình thực hiện, những thất bại hoặc những thành công có thể xảy ra ở mọi cấp; Giúp cung cấp những bài học, những lĩnh vực thành tựu và tiềm năng nổi bật và đưa ra những khuyến nghị cụ thể để hoàn thiện và cải cách. Xây dựng khung đánh giá chính sách KH&CN - Khung đánh giá Việc xây dựng khung đánh giá chính sách cần được xuất phát từ định nghĩa chính sách là gì. Ở nhiều nước phát triển đặc biệt là các nước OECD, đánh giá chính sách nói chung và đánh giá tác động của chính sách nói riêng -22- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được coi như là một phần không thể thiếu trong hoạch định và thực thi chính sách.
Vậy, đánh giá chính sách được định nghĩa như thế nào? Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về đánh giá chính sách. Theo Rosiet (1999) đánh giá được hiểu là “ việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu để tìm hiểu một cách hệ thống hiệu ích (effectivness) của các can thiệp xã hội (socian intervention) tức là chính sách định hướng cải thiện tình hình xã hội. Theo Scriven (1991): “Đánh giá chính sách là quá trình để xác định ưu điểm, giá trị của một cái gì đó”.