mở đầu cho những nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các nghiên trước đã chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu có tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể các cổ đông lớn thì sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên dựa trên lý thuyết người đại diện, nhiều tác giả đã cùng bác bỏ quan điểm trên (Porta, Lopezde- Silanes và Shleifer, 1999) khi cho rằng một khi doanh nghiệp sở hữu bởi các loại cổ đông lớn sẽ có hiện tượng các cổ đông lớn thu lợi riêng cho họ làm cho doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động kém hơn. Jensen và Meckling (1976) cho rằng có hai dạng mâu thuẫn về đại diện: mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý doanh nghiệp, mâu thuẫn giữa cổ đông và chủ nợ.
Chính sự mâu thuẫn cơ bản này đã tạo nên chi phí đại diện. Có hai loại chi phí đại diện từ hai mẫu thuẫn cơ bản trên: Thứ nhất, chi phí đại diện của vốn cổ phần phát sinh từ mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý doanh nghiệp do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Để giảm thấp mâu thuẫn đại diện, cổ đông chấp nhận bỏ ra chi phí đại diện, như các khoản chi để giám sát hoạt động (ví dụ như hoạt động kiểm toán), chi phí để cấu trúc lại tổ chức nhằm hạn chế các hành vi không mong muốn, và các chi phí cơ hội khi các cổ đông áp đặt các giới hạn cho ban quản lý. Thứ hai, chi phí đại diện của nợ phát sinh từ mâu thuẫn giữa cổ đông và chủ nợ.
Cổ đông có thể chiếm hữu tài sản của trái chủ bằng cách gia tăng rủi ro đầu tư (Jensen và Meckling 1976). Đối với những dự án rủi ro, chủ nợ sẽ đòi hỏi mức lãi suất cao hơn và xây dựng các điều khoản hạn chế trong các hợp đồng vay vốn, những điều khoản này cản trở hoạt động của các doanh nghiệp ở một vài khía cạnh nào đó. Các chủ nợ còn sử dụng các công cụ giám sát các doanh nghiệp, đảm bảo GVHD: TS. PHẠM HÀ HVTH: PHẠM THỊ DIỆU THU 11 ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ GIÁ TRỊ CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM rằng các điều khoản phải được tuân thủ.
Các chi phí trong trường hợp này được chuyển sang cổ đông dưới hình thức các khoản chi phí nợ vay cao hơn. Tóm lại, Jensen và Meckling (1976) cho rằng một cấu trúc vốn tối ưu có thể đạt được bằng việc cân đối giữa chi phí đại diện với lợi ích do sử dụng nợ, chi phí đại diện làm giảm lợi ích do sử dụng nợ để tài trợ. Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty. Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty.
Theo Healy và Palepu (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị doanh nghiệp (và chủ doanh nghiệp) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực,… để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị doanh nghiệp có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp và đối với các công ty cổ phần, công ty niêm yết, hệ thống kế toán quản trị cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và các cổ đông. Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam khi mà chưa có một thị trường chứng khoán phát triển hoàn chỉnh thì các thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp cung cấp chính xác và đầy đủ thực sự có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư.
Lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội bộ trong doanh nghiệp, các báo GVHD: TS. PHẠM HÀ HVTH: PHẠM THỊ DIỆU THU 12 ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ GIÁ TRỊ CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thống phân quyền trong các doanh nghiệp Việt Nam. Trong quản trị tài chính, vấn đề đại diện luôn chứa đựng mâu thuẫn tiềm tàng về lợi ích giữa trái chủ, cổ đông và người quản lý doanh nghiệp. Chi phí đại diện là chi phí phát sinh mà người chủ sở hữu doanh nghiệp phải gánh chịu khi có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý.
Trong một doanh nghiệp sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là hết sức cần thiết. Các cổ đông thì luôn muốn tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, giá trị của phần vốn góp của mình. Trong khi những nhà quản lý luôn có ước vọng tìm kiếm sự nhàn nhã, hoặc một phong cách sống xa hoa, họ có thể tránh những quyết định không hợp lòng người hay những quyết định mạo hiểm, đầy rủi ro mặc dù khi thành công sẽ tạo nên một nguồn lợi khổng lồ cho các cổ đông.2 Lý thuyết dòng tiền tự do Jensen (1986) dựa trên giả thuyết về dòng tiền tự do cho rằng cổ đông tổ chức có khả năng giám sát, kiểm soát các hoạt động của công ty tốt hơn các cổ đông cá nhân. Họ luôn biết tạo những ảnh hưởng đến các quyết định công ty để mang lại hiệu quả hoạt động tốt hơn.
Ngoài ra, các nhà quản lý phải chịu sự giám sát của cổ đông tổ chức cho nên luôn chịu áp lực phải làm tăng giá trị doanh nghiệp (Shleifer và Vishny 1986). Gần đây, Elyasiani và Jia (2010) đưa ra giả thuyết kiểm soát tích cực (Active Monitoring Hypothesis) cho rằng quan hệ giữa sở hữu tổ chức với hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp là cùng chiều.3 Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn Ngoài các nghiên cứu về vai trò quan trọng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp. Nghiên cứu về cấu trúc tài chính do Modiglani và Miller đưa ra vào năm 1958. Nội dung của lý thuyết này xem xét mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị doanh nghiệp.
Với hai trường hợp được nghiên cứu là doanh nghiệp hoạt động trong môi trường không thuế và trong môi trường có thuế. M&M đã đưa ra các kết luận quan trọng về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Đó là GVHD: TS. PHẠM HÀ HVTH: PHẠM THỊ DIỆU THU 13 ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ GIÁ TRỊ CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM trong trường hợp không thuế công ty có vay nợ và không vay nợ là như nhau, hay nói cách khác cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị công ty và không có cấu trúc vốn nào tối ưu.
Còn trong trường hợp có thuế thì giá trị công ty có nợ vay cao hơn giá trị công ty không vay nợ do được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế. Các kết luận trên được đưa ra dựa trên các giả định về thị trường hoàn hảo, không có chi phí kiệt quệ tài chính, không có chi phí giao dịch. Tuy nhiên, các giả định trên khó có thể xảy ra nên đã hạn chế khả năng ứng dụng của lý thuyết M&M trong thực tế.2 Thảo luận về mối quan hệ nghiên cứu trước đây Theo Morck và cộng sự (2005), sự khác nhau trong cấu trúc sở hữu dẫn đến hai hệ quả cho quản trị công ty. Một mặt, cổ đông lớn vừa có động cơ, lại vừa có quyền lực để tạo ra các quy tắc quản lý.
Mặt khác, quyền sở hữu tập trung dễ dẫn đến việc phát sinh ra những vấn đề mới, do không có tương quan lợi ích giữa việc giám sát và cổ đông thiểu số. Nói chung, quyền sở hữu tập trung hay sở hữu hỗn hợp đều có những tác động đến sự thay đổi trong khả năng sinh lời và năng suất lao động (Claessens và Djankov, 1998). Nghiên cứu của Sun và Tong (2003) kết luận rằng sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến hiệu suất doanh nghiệp ở Trung Quốc, trong khi đó sở hữu nước ngoài không thể hiện rõ ràng việc có tác động tích cực hay không đối với hiệu suất của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Claessens và Djankov (1998) lại cho thấy sở hữu bởi nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có ảnh hưởng mạnh đến khả năng sinh lời.
Mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã và đang là chủ đề được thảo luận nhiều trong các nghiên cứu gần đây về tài chính doanh nghiệp như Bathala và Rao (1995), Demsetz và Villalonga (2001), Kiruri (2013), Nguyễn (2005), Mitton (2002), Vethanayagam và cộng sự (2006) và nhiều tác giả khác. Theo Morck và cộng sự (2005), quản trị công ty sẽ gặp phải hai vấn đề nghiêm trọng nếu cấu trúc sở hữu không đồng nhất với nhau. Thứ nhất, cổ đông lớn vừa có động cơ, lại vừa có quyền lực để tạo ra các quy tắc quản lý. Thứ GVHD: TS.
PHẠM HÀ HVTH: PHẠM THỊ DIỆU THU 14 ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ GIÁ TRỊ CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM hai, quyền sở hữu tập trung dễ dẫn đến việc phát sinh ra những vấn đề mới, do không có tương quan lợi ích giữa việc giám sát và cổ đông thiểu số. Nói chung, quyền sở hữu tập trung hay sở hữu hỗn hợp đều có những tác động đến sự thay đổi trong khả năng sinh lời và năng suất lao động (Claessens và Djankov, 1998).