CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Bối cảnh thực tiễn và lý do lựa chọn đề tài Việt Nam là một trong những quốc gia có thị trường tài chính sôi nổi và phát triển nhanh nhất thế giới với các chính sách đổi mới nổi bật cả về chính trị lẫn kinh tế kể từ năm 1986. Nền kinh tế thị trường định hướng theo chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam được đánh giá là trường hợp nghiên cứu đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả (Doan, Lin & Doong, 2018). Khi nghiên cứu bất kỳ hệ thống kinh tế nào, lĩnh vực ngân hàng luôn là một trong những chủ đề quan trọng được quan tâm nhiều nhất. Tại Việt Nam, hệ thống tài chính dựa trên nền tảng ngân hàng, do đó, ngành ngân hàng được xem là mạch máu của cả nền kinh tế.
Các NHTMCP đóng vai trò quan trọng trong phân phối vốn từ các chủ thể thừa vốn tới chủ thể thiếu vốn. Đây là nguồn cung cấp tài chính ngắn hạn và dài hạn chủ yếu của hầu hết các đối tượng trong nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân (Tran, Hassan & Houston, 2018). Khác với các quốc gia khác trên thế giới, phần lớn hệ thống ngân hàng Việt Nam do các NHTMCP Nhà nước chi phối, trong đó cổ đông lớn nhất là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, với hơn 70% tổng vốn chủ sở hữu. Các NHTMCP Nhà nước chiếm xấp xỉ 50% thị phần (SBV, 2017), sở hữu lượng khách hàng lớn nên thường ít có động lực cải thiện khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động.
Từ năm 2005 đến nay, hệ thống Ngân hàng Việt Nam chứng kiến ba giai đoạn thay đổi và phát triển: giai đoạn hội nhập (2005 – 2010), giai đoạn khủng hoảng (2011-2014) và giai đoạn tái cơ cấu và phục hồi (từ 2014). Từ năm 2005, Việt Nam là một trong những quốc gia tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện rõ nét qua việc tham gia vào hàng loạt các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế (WTO, AFTA) và ký kết các Hiệp định song phương, đa phương theo hướng toàn cầu hóa (TPP, EVFTA). Theo lộ trình cam kết, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng phải mở cửa hội nhập. Đặc biệt năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành ngân hàng chứng kiến sự bùng nổ về số lượng các ngân hàng.
Sự xuất hiện của 10 ngân hàng tư nhân mới và sự thâm nhập của 5 ngân hàng nước ngoài khiến cho mức độ cạnh tranh của ngành trở nên khốc liệt hơn. Mặt khác, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào 6 cơ cấu quản trị của các ngân hàng ngày càng gia tăng, góp phần đa dạng hóa cơ cấu vốn chủ sở hữu hiện có của các ngân hàng (cổ đông trước giai đoạn này chỉ bao gồm nhà nước, tư nhân và tổ chức), từ đó, hiệu quả hoạt động cũng như rủi ro của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng (SBV, 2020). Sau khi bong bóng bất động sản tại Hoa Kỳ vỡ vào năm 2007, nền kinh tế Thế giới chứng kiến liên tiếp cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn (Chen, Wei, Zhang & Shi, 2013; Demyanyk & Van Hemert, 2011). Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại trong khi áp lực lạm phát vẫn gia tăng đáng kể, thách thức chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương.
Mức độ tác động của khủng hoảng khác nhau tùy thuộc vào mức độ hội nhập của nền kinh tế. Nhiều nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế lớn như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, phải gánh chịu những hậu quả nặng nề như tăng trưởng kinh tế âm, thu hồi sản xuất kinh doanh, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Trong bối cảnh đó, thị trường tài chính liên tục có những tín hiệu tiêu cực, tạo tâm lý bi quan cho toàn bộ nền kinh tế. Nguyên nhân cơ bản của thảm họa kinh tế này xuất phát từ khủng hoảng tín dụng và sự tập trung rủi ro trong danh mục tín dụng của ngân hàng.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tất cả các chỉ số kinh tế của Việt Nam suy giảm đáng kể từ năm 2009 và ngày càng tệ hơn trong giai đoạn 2011-2014. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế Việt Nam không hề nhỏ: hoạt động sản xuất kinh doanh bị hạn chế, giá trị sản xuất công nghiệp giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng trở nên xấu đi (do các doanh nghiệp sản xuất gặp nhiều khó khăn). Trên thực tế, tăng trưởng GDP năm 2011 giảm xuống 4,8% - mức thấp nhất kể từ năm 1999, trong khi tỷ lệ lạm phát liên tục tăng vọt ngoài tầm kiểm soát với hai con số kể từ cuối năm 2010.
Bên cạnh đó, tổng đầu tư (chủ yếu của khu vực nhà nước) bị giảm khoảng 40% GDP đến khoảng 30% GDP trong giai đoạn 2009 - 2015 (Bezemer & Schuster, 2014). Nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với tình trạng nhập siêu cao, thâm hụt ngân sách và nợ công cận ngưỡng. Ngành ngân hàng Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng này. Xu hướng tăng trưởng tín dụng chậm lại và nợ xấu gia tăng là hai dấu hiệu rõ ràng tác động lớn đến hoạt động của các NHTMCP.
Nợ xấu, tình trạng thiếu thanh khoản và 7 hoạt động kém hiệu quả là những mối lo ngại lớn đối với toàn ngành vào thời điểm đó. Các ngân hàng Việt Nam bộc lộ một số yếu điểm, điển hình như thiếu nguồn vốn đệm, kỹ năng quản lý kém và thiếu một chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả. Bắt nguồn từ các biện pháp kích thích kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, tình trạng mở rộng tín dụng nhanh chóng mà không kiểm soát hiệu quả rủi ro tín dụng và rủi ro đạo đức đã gây ra nhiều vấn đề tiêu cực về chất lượng tài sản tại hầu hết các NHTMCP Việt Nam. Đây là nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng ngân hàng Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2014.
Kết quả là, tỷ lệ nợ xấu bình quân trên tổng vốn của toàn hệ thống tăng vọt từ mức thấp (3.5% năm 2008) đến mức cao (13% năm 2012 và khoảng 15% năm 2014), theo ước tính của Fitch Ratings và Moody's Investor service (Bezemer & Schuster, 2014). Số lượng ngân hàng giảm từ 52 ngân hàng năm 2011 xuống còn 43 ngân hàng năm 2015 (Bảng 1.1) do nhiều trường hợp phá sản và hoạt động mua bán sáp nhập. Các ngân hàng yếu kém bị loại bỏ khỏi thị trường trong giai đoạn này.1: Số lượng ngân hàng tại Việt Nam từ 2007-2019 2007 2011 2013 2015 2017 2019 Ngân hàng sở hữu Nhà nước 5 5 5 7 4 5 NHTMCP 37 37 33 28 31 31 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 5 5 5 5 8 9 Ngân hàng liên doanh 5 5 4 3 2 4 Tổng 52 52 47 43 45 49 Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2020 Trong bối cảnh đó, nhằm ổn định toàn hệ thống ngân hàng, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”, theo đó tái cơ cấu toàn diện ngành ngân hàng (Quyết định 254/QĐ-TTg, ký ngày 1/3/2012) (Nguyen, Ho & Vo, 2018). Định hướng của đề án là củng cố và nâng cao vai trò của các NHTMCP nhà nước, trở thành lực lượng chủ lực của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Đề án khuyến khích đẩy mạnh cổ phần hóa các NHTM nhà nước, nhưng vẫn đảm bảo Nhà nước vẫn giữ lượng cổ phần chi phối trong các ngân hàng này. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng bắt đầu thí điểm áp dụng các quy định Basel II tại 8 một vài NHTMCP từ năm 2016 và yêu cầu tất cả các ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Hiệp ước kể từ năm 2018. Bên cạnh đó, để đặc biệt xử lý vấn đề nợ xấu và làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, Quyết định 843/QĐ-TTg được ban hành năm 2013 với nội dung phê duyệt đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” và đề án “Thành lập công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam”, làm tiền đề giải quyết những khó khăn về vốn cho các chủ thể kinh tế và góp phần tăng trưởng kinh tế. Từ sau Quyết định 254/QĐ-TTg và Quyết định 843/QĐ-TTg, theo sự hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hệ thống ngân hàng Việt Nam chứng kiến những thay đổi đáng kể trong cơ cấu sở hữu tại nhiều đơn vị.
Các ngân hàng yếu kém bị loại bỏ chủ yếu thông qua việc hợp nhất và sáp nhập trên cơ sở tự nguyện, vốn điều lệ gia tăng đáng kể. Hệ thống quản trị điều hành tại các ngân hàng được tái cơ cấu, cổ phần hóa các NHTM nhà nước được đẩy mạnh. Mặc dù vậy, Nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối thông qua việc sở hữu cổ phần tại các NHTMCP lớn. Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu chéo giữa các NHTMCP, trong bối cảnh hoạt động thanh tra, giám sát còn chưa phát triển, đặt ra những nguy cơ tiềm ẩn làm giảm hiệu quả của nền kinh tế nói chung và ngành tài chính ngân hàng nói riêng (SBV, 2017).
Năm 2019, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025” (Quyết định 242/QĐ-TTg). Theo đó, các NHTMCP buộc phải có kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán và minh bạch báo cáo tài chính đến hết năm 2020. Để tiếp tục phát triển trong bối cảnh mới với những thay đổi mạnh mẽ trong định hướng và chính sách Nhà nước, các NHTMCP Việt Nam ý thức được tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro, củng cố và cải thiện hiệu quả hoạt động, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững. Những thay đổi về cấu trúc sở hữu sau khủng hoảng đặt ra cho các nhà quản trị ngân hàng cũng như các nhà hoạch định chính sách nhiều câu hỏi: Việc tái cơ cấu sở hữu ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động và hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng? Sự thay đổi cấu trúc sở hữu trong thời gian qua như thế nào? Cấu trúc sở hữu tập trung vào một vài nhóm cổ đông có giúp các ngân hàng tăng trưởng hiệu 9 quả và an toàn không? Việc sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực hay tích cực đến hiệu quả hoạt động và hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng?