Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Cấu trúc sở hữu, hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động: trường hợp các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Dương Trọng Đoàn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Huy Hoàng tại Viện Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án thuộc chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, theo định hướng nghiên cứu định lượng thực nghiệm kinh tế lượng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau dấu mốc đổi mới năm 1986 và đặc biệt là sự kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng về quy mô và số lượng định chế tài chính. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng Việt Nam mang tính chất đặc thù khi Nhà nước chi phối phần lớn thông qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (nắm giữ hơn 70% tổng vốn chủ sở hữu và chiếm khoảng 50% thị phần theo số liệu Ngân hàng Nhà nước năm 2017). Giai đoạn 2008–2019 ghi nhận các biến chuyển lớn từ giai đoạn hội nhập (2005–2010), khủng hoảng tín dụng và nợ xấu (2011–2014) với tỷ lệ nợ xấu ước tính bởi Fitch Ratings và Moody's lên đến 13% năm 2012 và khoảng 15% năm 2014, dẫn đến việc thu hẹp số lượng ngân hàng từ 52 (năm 2011) xuống 43 (năm 2015), cho đến giai đoạn tái cơ cấu phục hồi theo Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012, Quyết định 843/QĐ-TTg năm 2013 và định hướng niêm yết theo Quyết định 242/QĐ-TTg năm 2019.

Trước các quyết định tái cơ cấu, vấn đề sở hữu chéo, mức độ tập trung sở hữu, sự chi phối của sở hữu nhà nước và áp lực minh bạch hóa thông qua niêm yết chứng khoán đặt ra yêu cầu phải kiểm chứng tác động của cơ chế quản trị nội bộ đến rủi ro và hiệu quả. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: các công trình tại Việt Nam trước đây chủ yếu xem xét rủi ro trong quá khứ (tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn), chưa đánh giá hành vi chấp nhận rủi ro chủ động/tương lai; chưa có nghiên cứu nào tích hợp đồng thời ba khía cạnh cấu trúc sở hữu (đặc điểm sở hữu nhà nước, đặc điểm niêm yết, mức độ sở hữu tập trung) cùng các tác động tương tác của chúng lên cả hiệu quả hoạt động (kết hợp chỉ số tài chính và hiệu quả kỹ thuật DEA) và hành vi chấp nhận rủi ro trong một chuỗi dữ liệu dài 12 năm.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý. Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định 5 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá tác động của đặc điểm sở hữu nhà nước đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.
  2. Đánh giá tác động của đặc điểm niêm yết đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.
  3. Đánh giá tác động của mức độ sở hữu tập trung đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.
  4. Đánh giá tác động của mức độ sở hữu tập trung kết hợp với đặc điểm sở hữu nhà nước đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.
  5. Đánh giá tác động của mức độ sở hữu tập trung kết hợp với đặc điểm niêm yết đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án xây dựng hệ thống 3 nhóm câu hỏi nghiên cứu chính (được chia thành các câu hỏi nhánh):

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Đặc điểm sở hữu nhà nước và đặc điểm niêm yết tác động như thế nào đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP VN?
    • Câu 1.1: Đặc điểm sở hữu nhà nước và đặc điểm niêm yết tác động như thế nào đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng?
    • Câu 1.2: Đặc điểm sở hữu nhà nước và đặc điểm niêm yết tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Mức độ sở hữu tập trung tác động như thế nào đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP VN?
    • Câu 2.1: Mức độ sở hữu tập trung tác động như thế nào đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng?
    • Câu 2.2: Mức độ sở hữu tập trung tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Mức độ sở hữu tập trung tác động đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả của các NHTMCP VN như thế nào khi xem xét đến đặc điểm sở hữu nhà nước và đặc điểm niêm yết?
    • Câu 3.1: Mức độ sở hữu tập trung tại các ngân hàng sở hữu nhà nước tác động như thế nào đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động?
    • Câu 3.2: Mức độ sở hữu tập trung tại ngân hàng niêm yết tác động như thế nào đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc sở hữu, hành vi chấp nhận rủi ro, hiệu quả hoạt động và mối quan hệ tác động giữa cấu trúc sở hữu đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP.
  • Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 12 năm, từ năm 2008 đến năm 2019.
  • Không gian và mẫu nghiên cứu: 20 NHTMCP tiêu biểu tại Việt Nam, bao gồm 3 NHTMCP có vốn nhà nước chi phối và 17 NHTMCP tư nhân trong nước. Mẫu nghiên cứu chiếm trên 80% tổng thị phần toàn hệ thống ngân hàng, có dữ liệu tài chính liên tục 12 năm trên hệ thống Bankscope/Orbis Bank Focus và báo cáo tài chính kiểm toán, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng với 240 quan sát.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại

Luận án đã tổng thuật hệ thống nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh ba trục chính:

  1. Về cấu trúc sở hữu theo tính chất cổ đông (Sở hữu nhà nước so với sở hữu tư nhân): Laffont & Tirole (1993), Sappington & Stiglitz (1987), Grossman & Hart (1980) nhận định sở hữu nhà nước giúp kiểm soát hoạt động tốt hơn dựa trên mục tiêu xã hội. Ngược lại, Shleifer (1998), Boycko, Shleifer & Vishny (1996), Dewenter & Malatesta (1997) chứng minh doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả do bị can thiệp bởi mục tiêu chính trị. Bonin & Wachtel (1999), Andrews (2005), Clarke, Cull & Shirley (2005) khẳng định tư nhân hóa giúp giảm bớt sự cản trở của chính phủ và nâng cao hiệu quả quản trị. Về khía cạnh rủi ro, Kane (1986), Pennacchi (1987), Dong et al. (2000), Hoskisson et al. (2013) cho rằng sở hữu nhà nước đi kèm với bảo lãnh ngầm, tiếp cận vốn ưu đãi khiến định chế tài chính chấp nhận nhiều rủi ro hơn. Tại Việt Nam, Vo (2018) cho rằng doanh nghiệp sở hữu nhà nước hưởng lợi chính trị nên ít có động cơ chấp nhận thêm rủi ro; ngược lại, Nguyen (2017) tìm thấy bằng chứng sở hữu nhà nước khiến doanh nghiệp chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Về hiệu quả, Nguyen (2017) và Kubo & Phan (2019) cho thấy doanh nghiệp/ngân hàng nhà nước sử dụng nguồn lực hiệu quả, trong khi Pham & Nguyen (2020), Pham & Bui (2019) chỉ ra sở hữu nhà nước và tư nhân đều đi kèm với rủi ro tín dụng cao và nguy cơ phá sản.

  2. Về cấu trúc sở hữu tập trung và hiệu quả, rủi ro: Balsmeier & Czarnitzki (2017), Jensen & Meckling (1976), Shleifer & Vishny (1986, 1997) chỉ ra sở hữu tập trung giúp cổ đông lớn có động lực và quyền lực kiểm soát nhà quản lý, giảm chi phí đại diện. Hoskisson et al. (2013), Thomsen & Pedersen (2000), Welch (2003), Selarka (2005), Easterbrook (1984), Laeven & Levine (2009) khẳng định sở hữu tập trung làm gia tăng hành vi chấp nhận rủi ro do mâu thuẫn giữa cổ đông đa số và cổ đông thiểu số (giả thuyết thâu tóm). Ngược lại, Wang & Shailer (2015), Claessens et al. (2002), Fathi & ElBannan (2017), Mollah et al. (2017) cho rằng tại châu Á, sở hữu tập trung theo đuổi mục tiêu ổn định và giảm rủi ro. Beltratti & Stulz (2012), Erkens & Hung (2010), Aebi et al. (2012) phát hiện các ngân hàng có sở hữu tập trung chấp nhận nhiều rủi ro trước khủng hoảng dẫn đến tổn thất lớn khi khủng hoảng xảy ra.

  3. Về đặc điểm niêm yết và kỷ luật thị trường: Bliss & Flannery (2002), Powell (2004) nhấn mạnh vai trò của kỷ luật thị trường (trụ cột 3 của Basel II) trong việc giám sát và hạn chế rủi ro. Barry, Lepetit & Tarazi (2011) chỉ ra ngân hàng niêm yết có thanh khoản cổ phiếu cao, chi phí huy động vốn thấp nhưng có thể chấp nhận rủi ro tăng trưởng nhanh, đồng thời khoảng cách giữa cổ đông phân tán và ban điều hành làm tăng chi phí đại diện (Jensen & Meckling, 1976).

  4. Về quy mô quản trị và hiệu quả tại Việt Nam: Ngo (2012), Trinh, Duyen & Thao (2015) nhận định quy mô ban quản trị lớn làm giảm hiệu quả và khả năng quản trị rủi ro kém; ngược lại Tran & Nguyen (2016) tìm thấy tác động tích cực của việc mở rộng quy mô ban quản trị.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây tại Việt Nam thường tiếp cận đơn lẻ (hoặc chỉ xét hiệu quả, hoặc chỉ xét rủi ro quá khứ), chưa kiểm tra vai trò điều tiết tương tác giữa mức độ sở hữu tập trung với tính chất sở hữu nhà nước và đặc điểm niêm yết. Luận án lựa chọn giải quyết đồng thời các tác động trực tiếp và tác động tương tác này lên cả hành vi chấp nhận rủi ro tương lai (forward-looking) và hiệu quả hoạt động đa chiều (chỉ số tài chính và hiệu quả kỹ thuật DEA) trong bối cảnh các quy định tái cơ cấu ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2008–2019.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các lý thuyết nền tảng và khung phân tích

Luận án xây dựng cơ sở lập luận dựa trên các lý thuyết kinh tế và quản trị doanh nghiệp:

  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory - Ross, 1973; Mitnick, 1975; Jensen & Meckling, 1976; Shleifer & Vishny, 1997): Phân tích 3 xung đột đại diện: (i) Chủ sở hữu - Nhà quản lý (sự bất cân xứng thông tin và thái độ đối với rủi ro); (ii) Chủ sở hữu đa số - Chủ sở hữu thiểu số (cổ đông lớn thâu tóm lợi ích); (iii) Chủ sở hữu - Chủ nợ (chấp nhận rủi ro vượt mức chịu đựng của chủ nợ).
  • Giả thuyết thâu tóm (Expropriation Hypothesis - La Porta et al., 1999; Bebchuk & Weisbach, 2010): Cổ đông lớn nắm quyền chi phối đưa ra các quyết định đầu tư rủi ro nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân, chuyển giao rủi ro cho cổ đông thiểu số.
  • Lý thuyết can thiệp giúp đỡ (Helping Hand Theory) và Lý thuyết can thiệp gây cản trở (Grabbing Hand Theory): Giải thích vai trò hai mặt của sự can thiệp từ phía Nhà nước vào định chế tài chính.
  • Lý thuyết rủi ro đạo đức (Moral Hazard Theory - Krugman, 2009) và Quan điểm "Quá lớn để sụp đổ" (Too Big to Fail): Sự bảo lãnh ngầm từ Chính phủ tạo tâm lý ỷ lại, thúc đẩy các ngân hàng nhà nước chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn.
  • Lý thuyết cho vay xã hội (Social Lending Theory - Berger et al.): Giải thích việc ngân hàng nhà nước phải tài trợ các chương trình an sinh xã hội, dẫn đến việc chấp nhận rủi ro dưới chuẩn.
  • Lý thuyết cuộc sống tĩnh lặng (Quiet Life Hypothesis): Lợi thế độc quyền và mối quan hệ pháp lý khiến ngân hàng có vốn nhà nước thiếu động lực đổi mới và suy giảm năng lực cạnh tranh.
  • Lý thuyết đánh đổi rủi ro và lợi nhuận (Markowitz, 1959): Ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao hơn nhằm đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng cao hơn.
  • Lý thuyết giám sát và điều hành (Monitoring Theory - Jensen & Meckling, 1976; Heugens et al., 2009): Cổ đông lớn có đủ nguồn lực và động lực để giám sát ban điều hành, giảm sai phạm nội bộ.

Phương pháp nghiên cứu và đo lường biến

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thực nghiệm với các biến số được định nghĩa cụ thể:

  1. Đo lường mức độ sở hữu và cấu trúc sở hữu:

    • Phân loại theo tính chất cổ đông: Sử dụng biến phân loại sở hữu nhà nước (SOE) và sở hữu tư nhân.
    • Phân loại theo đặc điểm niêm yết: Phân loại ngân hàng niêm yết (LISTED) trên HOSE/HNX và chưa niêm yết.
    • Đo lường mức độ sở hữu tập trung: Sử dụng tỷ lệ sở hữu của nhóm 01 cổ đông lớn nhất (CR1), nhóm 02 cổ đông lớn nhất (CR2), và nhóm 05 cổ đông lớn nhất (CR5).
  2. Đo lường hành vi chấp nhận rủi ro (Risk-taking behavior): Tiếp cận theo hướng đánh giá rủi ro chủ động/tương lai (forward-looking):

    • Mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng (LLP).
    • Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng (LLR).
    • Hệ số ổn định / nguy cơ phá sản Zscore: $Zscore = \frac{ROA + EA}{\sigma(ROA)}$ (trong đó EA là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, $\sigma(ROA)$ là độ lệch chuẩn của ROA). Zscore càng cao thì ngân hàng càng ổn định, rủi ro vỡ nợ càng thấp.
    • Tỷ lệ an toàn vốn và tài sản: Tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (LOTA), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên nợ ròng (ENL).
  3. Đo lường hiệu quả hoạt động (Performance):

    • Phương pháp tiếp cận phi cấu trúc: Sử dụng các chỉ số tài chính truyền thống gồm ROE (Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), ROA (Lợi nhuận trên tổng tài sản), NIM (Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên).
    • Phương pháp tiếp cận cấu trúc: Sử dụng Phương pháp bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) theo mô hình hiệu quả không đổi theo quy mô (DEA-CRS) được phát triển bởi Charnes, Cooper & Rhodes (1978) dựa trên nền tảng Farrell (1957) để tính toán biến Hiệu quả kỹ thuật (CRS_TE).
          [Cấu trúc sở hữu]
  - Sở hữu Nhà nước / Tư nhân
  - Đặc điểm Niêm yết / Chưa niêm yết
  - Mức độ tập trung (CR1, CR2, CR5)
  - Biến tương tác (Tập trung × Nhà nước; Tập trung × Niêm yết)
                       (Phi cấu trúc: ROA, ROE, NIM)
                       (Cấu trúc: Hiệu quả kỹ thuật DEA-CRS TE)

Kỹ thuật phân tích và dữ liệu

  • Mô hình kinh tế lượng: Hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data) kế thừa mô hình của Boateng et al. (2013, 2015), Nguyen et al. (2018) và Vo (2018).
  • Quy trình kiểm định và lựa chọn mô hình:
    • Sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và Mô hình tác động cố định (FEM) (giả thuyết $H_0$: REM phù hợp, $H_1$: FEM phù hợp; bác bỏ $H_0$ khi $p\text{-value} < 0.10$).
    • Sử dụng kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian Multiplier (LM test) để lựa chọn giữa mô hình REM và mô hình bình phương nhỏ nhất cổ điển (Pooled OLS) (giả thuyết $H_0$: OLS phù hợp, bác bỏ $H_0$ khi $p\text{-value} < 0.10$).
    • Kiểm định F-test đối với các hệ số hồi quy.
  • Công cụ xử lý: Phần mềm kinh tế lượng Stata.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ cơ sở dữ liệu quốc tế Bankscope / Orbis Bank Focus, đối chiếu và chuẩn hóa với báo cáo tài chính đã kiểm toán của 20 NHTMCP Việt Nam và các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu tổng quan

Chương 1 thiết lập nền tảng nghiên cứu thông qua việc làm rõ bối cảnh kinh tế Việt Nam sau năm 2005. Tác giả phân tích thực trạng ba giai đoạn phát triển của ngành ngân hàng, diễn biến nợ xấu tăng cao sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và sự sụt giảm số lượng ngân hàng từ 52 định chế xuống còn 43 định chế vào năm 2015 do các thương vụ sáp nhập, hợp nhất bắt buộc và tự nguyện.

Năm Ngân hàng sở hữu Nhà nước NHTMCP Ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngân hàng liên doanh Tổng cộng
2007 5 37 5 5 52
2011 5 37 5 5 52
2013 5 33 5 4 47
2015 7 28 5 3 43
2017 4 31 8 2 45
2019 5 31 9 4 49

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020) trong văn bản luận án.

Chương này công bố 5 mục tiêu nghiên cứu, 3 nhóm câu hỏi nghiên cứu lớn, phạm vi 20 ngân hàng (chiếm 80% thị phần, 240 quan sát) và nêu bật 5 điểm mới của đề tài về mặt phương pháp luận và đóng góp thực tiễn.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và xây dựng giả thuyết nghiên cứu

Chương 2 tổng hợp hệ thống khái niệm về cấu trúc sở hữu (phân loại theo tính chất cổ đông, theo mức độ tập trung dựa trên các ngưỡng kiểm soát 10% và 20% theo Berle & Means, Larner, La Porta et al., và phân loại theo đặc điểm niêm yết). Tác giả phân tích bản chất các loại rủi ro ngân hàng theo Basel (tín dụng, hoạt động, thị trường) và lý giải hành vi chấp nhận rủi ro theo quan điểm đánh đổi rủi ro - lợi nhuận (Markowitz, 1959). Hiệu quả hoạt động được phân tách thành hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bổ (AE), hiệu quả quy mô (SE) dựa trên mô hình DEA-CRS (Farrell, 1957; Charnes et al., 1978).

Từ các lý thuyết nền tảng (Đại diện, Thâu tóm, Can thiệp giúp đỡ/gây cản trở, Rủi ro đạo đức, Cho vay xã hội, Cuộc sống tĩnh lặng), chương 2 xây dựng hai nhóm giả thuyết nghiên cứu chính:

  • Nhóm giả thuyết 1 (Mục 2.5.1): Tác động của cấu trúc sở hữu (nhà nước, niêm yết, sở hữu tập trung CR1, CR2, CR5) đến hành vi chấp nhận rủi ro (LLP, LLR, Zscore, LOTA, ENL).
  • Nhóm giả thuyết 2 (Mục 2.5.2): Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động (ROE, ROA, NIM, CRS_TE).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết công thức đo lường từng biến số và xây dựng hệ thống phương trình hồi quy dữ liệu bảng:

  1. Mô hình 1: Tác động của đặc điểm sở hữu nhà nước và đặc điểm niêm yết đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động.
  2. Mô hình 2: Tác động của mức độ sở hữu tập trung (CR1, CR2, CR5) đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động.
  3. Mô hình 3: Tác động của mức độ sở hữu tập trung kết hợp với các biến tương tác ($CR \times SOE$ và $CR \times LISTED$) đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động. Chương 3 cũng quy định rõ các tiêu chuẩn kiểm định lựa chọn mô hình giữa Pooled OLS, REM và FEM thông qua kiểm định Hausman và kiểm định Breusch-Pagan LM trên phần mềm Stata.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 cung cấp kết quả thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan giữa các biến và kết quả ước lượng từ Stata cho các mô hình hồi quy. Tác giả thảo luận kết quả theo ba cụm nội dung chính:

  • Tác động của sở hữu nhà nước và niêm yết: Các NHTMCP sở hữu nhà nước có hiệu quả hoạt động thấp hơn và chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn so với các ngân hàng tư nhân (phù hợp với lý thuyết rủi ro đạo đức và lý thuyết cho vay xã hội). Ngược lại, các ngân hàng niêm yết thể hiện hiệu quả hoạt động tốt hơn và hành vi chấp nhận rủi ro thận trọng hơn các ngân hàng chưa niêm yết (khẳng định vai trò kỷ luật thị trường).
  • Tác động của mức độ sở hữu tập trung: Mức độ sở hữu tập trung cao (đo bằng CR1, CR2, CR5) làm gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng (ủng hộ lý thuyết giám sát và điều hành), nhưng đồng thời làm gia tăng hành vi chấp nhận rủi ro (phù hợp với giả thuyết thâu tóm).
  • Tác động tương tác:
    • Khi tương tác giữa sở hữu tập trung và sở hữu nhà nước ($CR \times SOE$): Mức độ tập trung quyền lực cao trong tay Nhà nước làm suy giảm hiệu quả hoạt động và gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro.
    • Khi tương tác giữa sở hữu tập trung và niêm yết ($CR \times LISTED$): Mức độ tập trung cao tại các ngân hàng đã niêm yết giúp ngân hàng giảm thiểu hành vi chấp nhận rủi ro và gia tăng hiệu quả hoạt động vượt trội nhờ sự kết hợp giữa giám sát nội bộ và kỷ luật thị trường. Bảng tổng hợp dấu hồi quy (Bảng tổng hợp tại trang 131 của luận án) xác nhận tính nhất quán của các ước lượng.

Chương 5: Kết luận

Chương 5 đúc kết các phát hiện thực nghiệm, trình bày 5 đóng góp mới của đề tài và đề xuất các hàm ý quản trị, hàm ý chính sách cho hệ thống NHTMCP và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, chương này chỉ ra các giới hạn của nghiên cứu và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Đặc điểm sở hữu nhà nước: Các NHTMCP có sở hữu nhà nước chi phối có hiệu quả hoạt động thấp hơn (cả về chỉ số tài chính ROA, ROE, NIM và hiệu quả kỹ thuật DEA-CRS) và có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn so với các ngân hàng tư nhân.
  2. Đặc điểm niêm yết: Ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng