phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn có kết cầu 03 Chơng: Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc từ năm 2012 đến năm 2018 Chơng 2: Thực trạng triển khai sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc từ năm 2012 đến năm 2018 Chơng 3: Một số đánh giá và gợi mở cho Việt Nam 19 Chong 1: CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE SUC MANH MEM VAN HOA TRUNG QUOC TU NAM 2012 DEN NAM 2018 1. Cơ sở lý luận về sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc 1. Khái niệm văn hóa, sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa 1. Khai niệm văn hóa “Văn hóa” một cụm từ không còn xa lạ đối với chúng ta, là một hiện tợng phát triển cong voi su phat triển của nhân loại, đan xen vào mọi hoạt động thực tiễn xã hội loài ngời nh ngôn ngữ, trang phục, phong cách kiến trúc, tập quán ăn uống.
Vì vậy, những định nghĩa về văn hóa cũng rất đa dạng, xuất phát từ các góc nhìn khác nhau, sự lý giải của mỗi cá nhân về văn hóa cũng có sự khác biệt. Từ góc độ ngôn ngữ học, trong hệ thống ngôn ngữ phơng Tây, cụm từ “văn hóa” (culture) có nguồn gốc từ tiếng La tỉnh “Cultura”, có nghĩa là chỉ sự trồng, cay trên ruộng đất, hàm ý bằng sự lao động cần cù, con ngời đã khu biệt với giới tự nhiên và có thể điều khiển giới tự nhiên. Sau đó, cụm từ này dần dần chuyên nghĩa thành sự giáo dục, bồi dong tam hon, trí tuệ, tình cảm, đạo đức và những phong tục tập quán của con ngời. Ngời Trung Quốc cổ xa hiểu văn hóa ( 5c 4È.
) là “nhân văn hóa thành” (À_# 4V.PÄ), tức là “nhìn vào nhân văn để thay đổi thiên hạ” (Kinh Dịch), chú trọng đến yếu tô tỉnh thần của luân lý xã hội. Thời Tây Hán, Lu Hớng chính thức sử dụng từ văn hóa trong tác phâm “Thuyết Uyên - Chỉ Vũ”, “văn hóa không thay đổi sẽ bị tiêu diệt”. Ở đây, văn hóa chỉ sự giáo hóa, đối lập với quyền lực. Từ hai cách hiểu trên có thé thay, cum từ “văn hóa” có ý nghĩa song tròng, thi? nhdt 1a chi sự canh tác của con ngời trên ruộng đất, đó là nhân hóa của tự nhiên bên ngoai; thi? hai là thông qua giáo dục và bồi đỡng khiến con ngời trở nên có đạo đức, có lý tính, là sự nhân hóa của tự nhiên bên trong [48].
Từ góc độ nhân loại học, những nghiên cứu nhân loại học về văn hóa càng chú trọng đến yếu tô “con ngời”. Nhà nhân loại học nỗi tiếng ngời Anh - Edward Tylor trong cuốn sách “Khởi nguồn văn hóa” xuất bản năm 1871 đã định nghĩa về văn hóa 20 nh sau: “Văn hóa hoặc văn minh, xét từ ý chí dân tộc rộng rãi, nó là một tong thé phức tạp chồng chéo, bao gồm tri thức, tín ngỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, năng lực và thói quen bắt kỳ mà con ngời với t cách là thành viên xã hội có đợc” [26, tr. Trong định nghĩa của Tylor, có thê thấy bà đã xem văn hóa là một sự “tổng hòa các kinh nghiệm của con ngời”, đây là một định nghĩa tơng đối rộng. Nhận thức về văn hóa của xã hội học cũng giống nh nhân loại học, coi văn hóa là sự tổng hòa lối sống và kinh nghiệm sống của con ngời “văn hóa là thành quả chung cùng hởng của một nhóm xã hội, những sản phẩm chung này không chỉ bao gồm giá trị quan, ngôn ngữ, tri thức mà còn bao gồm đối tong vật chất” [49, tr.
Cong voi quan điểm này, Tổ chức Văn hóa - Khoa học và Giáo dục (UNESCO) đa ra định nghĩa về văn hóa nh sau: Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ tông hợp các đặc trng diện mạo về tỉnh thần, vật chất, tri thức và tình cảm. khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chơng mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con ngời, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngỡng”. Từ góc độ quan hệ quốc tế, học giả ngời Mỹ Samuel Huntington đa ra khái niệm văn hóa thông qua quan hệ giữa văn hóa và văn minh.
Trong tác phẩm “Sự va chạm giữa các nền văn minh”, ông đã chỉ ra rằng, “Văn minh và văn hóa đều liên quan tới toàn bộ phơng thức sống của một dân tộc, văn minh là sự phóng đại của văn hóa. Chúng đều bao gồm mô hình t duy của giá trị, quy tắc, thể chế và tính quan trọng hàng đầu đợc trao qua nhiều thế hệ trong một xã hội nhất định” [15]. Học giả David Winters định nghĩa: “Văn hóa chính là tri thức chung của xã hội. Tri thức chung của xã hội là tri thức chung giữa các cá thể và cùng liên hệ với nhau.
Cái chung ở đây là cái chung về mặt ý nghĩa xã hội. Cái chung đó có thé 1a tinh chat hợp tác, cũng có thê là tính chất xung đột. Còng là kẻ thò của nhau và còng là bạn bè của nhau đều là sự thực văn hóa”[43]. Ở Việt Nam, văn hóa cũng đợc định nghĩa rất khác nhau.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nh mục đích của cuộc sống, loài ngời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn 21 hóa là sự tổng hợp của mọi phơng thức sinh hoạt còng với biêu hiện của nó mà loài ngời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [8, tr. Văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn th” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con ngời.
Thông qua việc nghiên cứu một số định nghĩa về văn hóa nêu trên, có thể thấy văn hóa là sản phẩm của con ngời đọc tạo ra trong quá trình lao động, đợc chỉ phối bởi môi tròng xung quanh và luôn gắn với một dân tộc cụ thể. Nhờ có văn hóa mà con ngời trớ nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do đợc chỉ phối bởi môi tròng xung quanh và tính cách mỗi dân tộc nên văn hóa có những đặc trng riêng. Khái niệm sức mạnh mêm Thuật ngữ sức mạnh mềm đợc các học giả phơng Tây tiếp cận từ rất sớm nhng trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh nên cha có điều kiện phát triên thành hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh. Đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi nớc Mỹ đang đứng trớc sức ép d luận quốc tế về sự glảm sút sức mạnh sau Chiến tranh Lạnh cũng nh nguy cơ đi vào trạng thái thoái trào.
Trong tác phâm “Sự /hjnh suy của các cờng quốc - những thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ năm 1500 - 2000” (The Rise and Fall of the Great Powers: Economic Change and Military Conflict from 1500 to 2000) của nhà Sử học ngời Mỹ - Paul Kennedy, ông đã tiến hành phân tích một cách cụ thể về lịch sử thịnh suy của các cờng quốc lớn trên thế giới trong khoảng thời gian 500 năm trở lại đây, và nhân mạnh vai trò quan trọng của sức mạnh kinh tế trong sức mạnh quốc gia “sự ảnh hởng của kinh tế là lớn nhất, tốc độ tăng trởng kinh tế khác nhau có thể khiến các quốc gia mạnh yếu khác nhau” [35]. Paul cùng cho rằng, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh với Liên Xô, Mỹ đã tiêu hao lợng lớn tài nguyên, sản xuất công, nông nghiệp ngày càng giảm mạnh, trong khi đó các cờng quốc khác nh Trung Quốc, Nhật Bản đang phát triển với tốc độ nhanh, điều này dẫn đến sự lụi tàn của nớc Mỹ. Việc nêu ra quan điểm này dẫn đến sự quan tâm rộng rãi của các học giả, chính trị gia nớc Mỹ. Nye đã đa ra quan điểm của riêng mình phản đối lại quan điểm của Kennedy.
Năm 1990, trong các tác phâm “Ràng buộc để dẫn dắt: Bản chat dang thay doi ctia quyén lec My” (Bound to Lead: The Changing Nature of American Power); “Néc My cé thé ldnh dao doc thé giới hay không?” lần đầu tiên đa ra khái niệm “sức mạnh mềm”. Ông còn chi ra rang: “Sw lui tan của nớc Mỹ là một dự báo không có cơ sở khoa học, vì thực lực của một quốc gia không chỉ 22 thể hiện trên các phơng diện chính trị, kinh tế hay quân sự mà còn quyết định bởi năng lực “hành vi đồng hóa” (điều muốn ngời khác làm theo mình) và tài nguyên sức mạnh mềm (đó là sức hấp dẫn của văn hóa, hình thái ý thức và quan hệ quốc tế). Trong tác phẩm “Sức mạnh mêm: Công cụ tiến tới thành công trong chính trị quốc tế” (Soft Power: The Means to Success in World Politics, 2004), S. Nye da chi ra nguồn gốc của sức mạnh mềm, lần lợt là văn hóa quốc gia, giá trị các chính sách và chính sách ngoại giao.
Ông cũng nhắn mạnh, nớc Mỹ có u thế về kinh tế và quân sự, đồng thời cũng có u thế về sức mạnh mềm đó là giá trị văn hóa và sức gắn kết văn hóa, vì vậy trong tong lai nớc Mỹ vẫn là quốc gia lãnh đạo thế giới. Từ những công trình nghiên cứu của S. Nye về sức mạnh mềm, chúng tôi có thể rút ra đợc, sức mạnh mêm đợc hiểu là sức hấp dẫn, thu phục, khả nang anh hong, loi cuon ctia mét quốc gia đối với quốc gia khác thông qua sức lan tỏa của văn hóa, hình thái ý thức và chế độ, từ đó thực hiện mục tiêu chiến lợc của quốc gia bằng các phơng thức mang tính phi cng chế trong quan hệ quốc tế [31]. Đặt trong hệ thỗng lý luận này, văn hóa là một công cụ quan trọng đề thực hiện sức mạnh mềm.
Khái niệm sức mạnh mễm văn hóa Trong những công trình về sức mạnh mềm của Joseph S. Nye (1990, 2004, 2011) đều cho rằng, sức mạnh mềm văn hóa là một loại sức mạnh mềm, có sức hấp dẫn, thu phục, ảnh hởng, lôi cuốn của một quốc gia đối với quốc gia khác bằng các giá trị văn hóa, tinh thần, hệ t tởng đợc thực hiện thông qua các phơng thức mang tính phi cỡng chế. nhằm đạt đợc những mục tiêu chiến lợc của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế.