MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhà cách mạng Pháp Napoléon Bonaparte từng gọi Trung Quốc là “gã khổng lồ đang say ngủ”, hãy để nó yên giấc, vì khi thức dậy, nó sẽ khiến cả thế giới kinh ngạc (Lee, 2007). Điều này đã được Trung Quốc chứng minh và cho thế giới thấy được năng lực đáng gờm của họ, đặc biệt là kể từ những năm 1978. Có thể thấy sau thời gian dài “thao quang dưỡng hối”, sự phát triển chưa từng có của Trung Quốc sau chính sách “cải cách mở cửa” của Đặng Tiểu Bình đã nhanh chóng biến năng lực tiềm ẩn của Trung Quốc thành sức mạnh thực sự và đặt nền móng cho một số thành tựu không thể chối cãi.
Điều này thể hiện rõ ràng trong ba thập kỷ với mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trung bình hàng năm là 9,8% kể từ năm 1979 (Lin, 2013), đưa hơn 600 triệu người thoát nghèo và Trung Quốc chính thức vượt mặt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào năm 2010 (Dickie, 2011). Nền kinh tế và quân sự của Trung Quốc trong hơn bốn thập kỷ qua đã đưa nước này sánh ngang với các cường quốc như Hoa Kỳ, Châu Âu, Nga và tiếp tục thống trị trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu. Sự thay đổi này là một trong những bước chuyển mình đáng chú ý nhất mà thế giới từng chứng kiến và nhiều người đã dự đoán đúng rằng nó có thể là hiện tượng toàn cầu quan trọng nhất trong thế kỷ 21. Với sức mạnh kinh tế ngày càng tăng, Trung Quốc đã dần đạt được những bước tiến to lớn trong việc xây dựng một cường quốc biển, mở rộng sự hiện diện trên biển và khẳng định các yêu sách lãnh thổ của mình trong khu vực.
Đến những năm 2000, định hướng chiến lược hàng hải của Bắc Kinh ngày càng rõ ràng hơn trong chiến lược lớn của họ. Cụm từ “xây dựng một cường quốc hàng hải mạnh mẽ” đã trở thành một tuyên bố chính trị ở Trung Quốc và xuất hiện thường xuyên trong các tài liệu chính thức. Năm 2012, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nói rõ rằng “xây dựng một cường quốc biển” là một trong các mục tiêu quốc gia (QVVTQ, 2012a). Tham vọng này được ông Tập Cận Bình tiếp tục củng cố, chỉ rõ: “xây dựng cường quốc biển là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc… và tiếp tục thực hiện công cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa (QVVTQ, 2013a).
Điều này cho thấy, việc ĐCSTQ hiện thực hóa “Giấc mơ Trung Hoa” có liên quan và phụ 2 thuộc vững chắc vào mục tiêu cường quốc biển và năng lực hải quân (PLAN). Trên thực tế, Trung Quốc hiện có đủ cả ý chí và phương tiện để thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng của PLAN, nhằm hỗ trợ hàng loạt các nhiệm vụ để thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa”. Nền tảng cho luận điểm này là sức mạnh kinh tế và năng lực hải quân nước xanh hiện tại của Trung Quốc đã thực sự thách thức an ninh khu vực và toàn cầu. Điều này không những tác động đáng kể đến các quốc gia trong khu vực, mà còn thách thức lợi ích và vị thế bá quyền của Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ.
Trong bối cảnh này, hiểu được sự trỗi dậy của Trung Quốc hướng tới một cường quốc biển kể từ năm 1978 là rất quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách, học giả và bất kỳ ai quan tâm đến tương lai của chính trị và an ninh toàn cầu. Từ những lý do trên, người viết chọn “Sự trỗi dậy của Trung Quốc theo hướng cường quốc biển” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình. Trong đó, luận văn tìm cách trả lời câu hỏi sau: Từ năm 1978, Trung Quốc đã phát triển chiến lược cường quốc biển của họ như thế nào và sự trỗi dậy trên biển này sẽ có tác động như thế nào đến Hoa Kỳ và các quốc gia trong khu vực? Để trả lời câu hỏi này, trọng tâm xuyên suốt của luận văn chủ yếu là tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc kể từ khi Đặng Tiểu Bình thực hiện chính sách cải cách. Quá trình phân tích bao gồm các chính sách hàng hải, chiến lược hải quân và những chuyển đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc qua từng thời kỳ.
Đồng thời một vài quan điểm nhất định cũng sẽ được thảo luận giúp chúng ta hiểu rõ về định hướng và tham vọng chiến lược hàng hải của Trung Quốc, đặc biệt là trong các các tranh chấp lãnh thổ. Các phân tích này sẽ giúp chúng ta đánh giá rằng liệu Trung Quốc có đang bành trướng sức mạnh biển một cách hung hăng hay không, có trở thành mối đe doạ đối với ổn định khu vực không, và nếu có thì tại sao? 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tăng trưởng kinh tế và quyền lực chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc đã cho phép nước này giành được ảnh hưởng trong khu vực và toàn cầu. Sự trỗi dậy của đất nước hướng tới một cường quốc hàng hải là một bước phát triển quan trọng đối với chính trị khu vực và toàn cầu.
Tổng quan tài liệu này nhằm mục đích cung cấp một cái nhìn về sức mạnh biển nói chung và sự trỗi dậy của Trung Quốc hướng tới một cường quốc biển nói riêng. Điều này cho thấy sự 3 phát triển của nước này trong lĩnh vực hàng hải diễn được diễn ra theo chiều hướng tăng dần, đặc biệt là kể từ sau khi nước này thực hiện cải cách và mở cửa. Thứ nhất, các công trình nghiên cứu sức mạnh biển phương Tây: (1) Hoa Kỳ là nơi sản sinh ra học thuyết về sức mạnh biển cả, là quốc gia có sức mạnh biển lớn nhất thế giới và là quốc gia bá chủ về biển duy nhất trên thế giới tính đến thời điểm hiện tại. Khó tìm được công trình về lý thuyết chiến tranh nào mà lại không có trích dẫn từ những tác phẩm của Alfred Thayer Mahan.
Những nghiên cứu đóng góp của Mahan đã làm được cho biển cũng giống như những gì mà Clausewitz và Jomini đã làm cho đất liền. Ông đã đưa ra những quan điểm không chỉ có ảnh hưởng đối với sự phát triển của lí thuyết về nghệ thuật hải chiến mà còn ảnh hưởng tới việc hình thành chính sách đối ngoại và học thuyết về hàng hải của nhiều quốc gia ven biển trên thế giới. Trong cuốn Ảnh Hưởng Của Sức Mạnh Trên Biển Đối Với Lịch Sử, 1660 – 1783 (The Influence of Sea Power upon History, 1660-1783, Boston: Little, Brown, and Company, 1890), Mahan đã lập luận về tầm quan trọng tối thượng của sức mạnh biển đối với quyền tối cao trong lịch sử quốc gia. Cuốn sách này là một phân tích mang tính cách mạng về tầm quan trọng của sức mạnh hải quân như một yếu tố trong sự trỗi dậy của Đế quốc Anh.
Mahan cho rằng quyền kiểm soát của Anh trên các vùng biển, kết hợp với sự suy giảm tương ứng về sức mạnh hải quân của các đối thủ lớn ở châu Âu, đã mở đường cho Vương quốc Anh nổi lên như một cường quốc quân sự, chính trị và kinh tế thống trị thế giới. Ông chỉ ra rằng biển là một đại lộ hay không gian chung rộng lớn của các nền văn minh, và các quốc gia dựa vào xuất khẩu hàng hóa để phát triển thì phảo giành quyền kiểm soát biển, đặc biệt là các tuyến giao thông huyết mạch. Vì vậy, một quốc gia có sức mạnh trên biển thì sẽ trở thành một cường quốc hùng mạnh, và sức mạnh trên biển chủ yếu được suy giản thành sức mạnh hải quân, tức là dùng quân sự giành lấy quyền làm chủ trên biển. Cuốn sách thứ hai của Mahan được xuất bản 2 năm sau đó, Ảnh hưởng của Quyền lực Biển đối với Cách mạng và Đế chế Pháp (The Influence of Sea Power upon the French Revolution and Empire, 1793–1812, Cambridge University Press, 1893), cung cấp một trong những cái nhìn tổng quan nhất về tiến trình của Cách mạng Pháp và các cuộc Chiến tranh Napoléon nói chung, đồng thời nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau 4 của quyền kiểm soát quân sự và thương mại trên biển và khẳng định rằng việc kiểm soát thương mại đường biển có thể quyết định kết quả của các cuộc chiến tranh.
Trong Mối quan tâm của Hoa Kỳ đối với Sức mạnh biển (The Interest of America in Sea Power, Present and Future, Little, Brown, 1898), Mahan đã tìm cách khơi dậy sự nhận thức của hải quân Mỹ về tầm quan trọng hàng hải và trách nhiệm của họ đối với việc xây dựng hải quân nước này. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, để cân bằng ưu thế của Liên Xô về sức mạnh lục địa và kìm hãm đà phát triển hải quân của họ, Bộ trường hải quân Mỹ John Lehman đã phát triển tư tưởng “sức mạnh biển” của Mahan thành “ưu thế trên biển”, và “chiến lược hải quân” thành “chiến lược biển”. Bắt đầu từ mục tiêu an ninh quốc gia là đảm bảo ưu thế hàng hải của Hoa Kỳ, ông đã thiết lập tám nguyên tắc, đặt nền tảng cho chiến lược hàng hải Hoa Kỳ, với triển khai phía trước, răn đe trên biển và liên minh với hải quân đồng minh là ba trụ cột chính. Lý thuyết “ưu thế hàng hải” của Lehman đáp ứng được nhu cầu chiến lược của chính phủ Mỹ nên rất được ủng hộ bởi Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và đạt được thành công lớn trong thực tế.
Cuốn sách Thống trị trên biển (Command of the Seas, Charles Scribner's Sons, 1988) của Lehmann là một công trình bàn về chiến lược hàng hải một cách toàn diện sau Mahan, nó cung cấp cơ sở lý thuyết để Hoa Kỳ xây dựng kế hoạch phát triển hải quân và xác định chiến lược hàng hải toàn cầu. Cuối cùng, Hoa Kỳ đã đảo ngược tình thế quân sự bất lợi trước Liên Xô, giành được vị trí thống trị trong cuộc cạnh tranh giành quyền bá chủ hàng hải và củng cố quyền bá chủ hàng hải toàn cầu của mình. (2) Anh là cường quốc hàng hải truyền thống và từng là bá chủ hàng hải của thế giới đương đại. Chiến lược gia nổi tiếng người Anh Julian Stafford Corbett đại diện cho nhà lý thuyết sức mạnh biển kiệt xuất khác cùng thời với Mahan.
Trường phái sức mạnh biển do ông sáng lập đã mở ra một lĩnh vực mới về lý thuyết sức mạnh biển của Anh trong thế kỷ 20 đồng thời làm phong phú và phát triển lý thuyết sức mạnh biển với hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, cấu trúc chặt chẽ và tầm nhìn dài hạn.