Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng điện tử Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hợp đồng điện tử tại Việt Nam Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao thi hành pháp luật về hợp đồng điện tử tại Việt Nam 14 CHUONG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE HỢP ĐÔNG ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng điện tử 1. Khái niệm hợp đồng điện tử Dé tồn tại và phát triển mỗi cá nhân cũng như tô chức phải tham gia vào nhiều mỗi quan hệ xã hội khác nhau trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ nhằm chuyên giao các lợi ích vật chất, thỏa mãn nhu cầu đóng một vai trò quan trọng và là tất yêu của mọi đời sống xã hội.Mác viết “7 chúng, hàng hóa không thể di tới thị trường và trao đổi với nhau được.
Muốn cho những vật đó quan hệ với nhau như những hang hóa thì người giữ hàng hóa đó phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó.mối quan hệ ý chi đó, mà hình thức của nó làm bản giao kèo đù có được củng cô thêm bằng pháp luật hay không cũng vậy — là một quan hệ ý chí phản ánh moi quan hệ kinh tế” Từ trước đến nay, hợp đồng luôn là phương thức cơ bản đề thiết lập giao dịch dân sự, giao lưu thương mại thông dụng nhất trên thế giới, dù “ở mdi quốc gia khác nhau, tại mỗi thời điểm khác nhau thì khái niệm về hop đông có đôi chút khác biệt. Tuy nhiên bản chất là thong nhất ”°. Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc phát sinh, thay đổi, châm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của minh trong các giao dịch của đời sống nhằm đáp ứng các nhu câu chính đáng và hợp pháp của các chủ thé. Sự tự do hợp đồng cho phép các bên được tự do thỏa thuận nội dung của hợp đồng và tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng trong giới hạn không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Hình thức ghi nhận thỏa thuận có thể bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết băng hình thức nhất định”.Mác, Tw bản, Quyển 1, Nxb Sự thật, Hà Nội năm 1973, tr. 163, 164 * Dinh Mai Phương (2005), Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 19-20 > Lê Thị Kim Hoa (2008), Hop dong thương mại điện tử và các biện pháp hạn chế rủi ro, Tạp chí Luật hoc,S6 11/2008, tr. 45 15 Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường không ngừng phat triển, việc trao đổi, giao lưu kinh tế cũng ngày càng mở rộng đã khắng định thêm tầm quan trọng của hợp đồng. Cùng với đó, thời đại số hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đã cho ra đời một loại hình hợp đồng mới - hợp đồng điện tử (tiếng anh là e-contracts), loại hình cơ bản của giao dịch điện tử.
Xuất phát từ bản chất của hợp đồng, có thê thấy hợp đồng điện tử cũng tương tự như các loại hợp đồng khác ở chỗ có sự thống nhất giữa các bên tham gia quá trình xác lập các quyền và nghĩa vụ của mình. Hợp đồng điện tử cũng cần thỏa mãn các điều kiện chung của hợp đồng như điều kiện về sự thống nhất ý chí; về nội dung của hợp đồng phải hợp pháp; và về mục đích của hợp đồng phải đáp ứng các nhu câu của con người, xã hội. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một khái niệm cụ thé nào về hợp đồng điện tử bởi không có sự đồng nhất về quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau về hợp đồng điện tử giữa các nhà nghiên cứu, lập pháp trong nước cũng như nước ngoài. Luật mẫu về thương mại của UNCITRAL (1996) không đưa ra định nghĩa thế nao là hợp đồng điện tử.
Tuy nhiên với sự phát triển của thương mại điện tử, hợp đồng điện tử cũng đã được luật pháp thừa nhận là một công cụ pháp lý dé ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Tại Điều 11 UNCITRAL về sự hình thành và giá trị pháp lý của hợp đồng, quy định: “Về hình thức hợp đông, trừ khi các bên có quy định khác, đề nghị giao kết hợp đồng (offer) và chấp nhận dé nghị giao kết hop đồng (acceptance of offer) có thé được thể hiện bằng thông điệp dit liệu. Khi thông điệp đữ liệu được sử dung để hình thành hợp đồng, hop dong đó không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì nó được thể hiện bằng thông điệp dữ liệu”". Theo đó, hợp đồng điện tử được hiểu là hợp đồng được ký kết thông qua việc sử dụng những phương tiện truyền các thông điệp dữ liệu.
Theo Ủy ban Kinh tế châu Âu của Liên hợp quốc (UNECE), hợp đồng điện tử là hợp đồng nhằm đáp ứng các yêu cầu của các đối tác thương mại điện tử. Hợp ° Luật Mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL 16 đồng bao gồm các điều khoản cơ bản có thé đảm bảo rang một hay nhiều giao dich thương mại điện tử, sau này có thể được ký kết giữa các đối tác thương mại trong khuôn khổ pháp lý cho phép. Hợp đồng điện tử nhằm đề cập tới mọi hình thức liên lạc điện tử có thê để ký kết các giao dịch thương mại điện tử”. Hau hết pháp luật các nước cũng không đưa ra định nghĩa về hợp đồng điện tử mà thường chỉ đưa ra quy định thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử.
Điền hình như Singapore tại Điều 11 đã quy định: “7rzường hợp một bản ghi điện tử được sử dung trong việc hình thành hợp đông do thì không bị phủ nhận giá trị pháp lý hoặc hiệu lực thực thi chỉ vì ly do duy nhất một bản ghi điện tử da được sử dung cho mục đích đó”. Như vay, hợp đồng điện tử được hiểu tương đối thống nhất trong quy định của pháp luật các nước cũng như trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Theo đó sự thống nhất này thé hiện ở chỗ phan lớn ý kiến đều cho rằng hợp đồng điện tử là hợp đồng được ký kết thong qua việc sử dụng những phương tiện truyền các thông điệp dit liệu. Tại Việt Nam, Luật Giao dịch điện tử và hướng dẫn thi hành về Luật Giao dịch điện tử đã thừa nhận giá trị pháp lí của hợp đồng điện tửu dưới dạng Thông điệp dữ liệu.
Cụ thé, Điều 33 của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định “Hop dong điện tử là hợp dong được thiết lập dưới dang thông điệp dit liệu”. Hơn nữa, Điều 34 của Luật này khang định thêm: “Giá tri pháp lí của hop dong điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng dé được thể hiện dưới dang thông điệp di liệu”. Khoản 12 Điều 4 giải thích “Thong điệp dit liệu là thông tin được tao ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tv’. Thông điệp dữ liệu thường được thể hiện dưới hình thức trao đối dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện báo, fax và các hình thức tương tự.
Ngoài ra, “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tu, kỹ thuật SỐ, từ tinh, 7 Trung tâm Thương mại quốc tế (2002), Bi quyết thương mại điện tử, Phụ lục III: Hợp đồng thương mại điện tử của UNECE, Nxb. Thê giới, Hà Nội, tr.184-185 * Luật Giao dịch điện tử năm 1998 của Singapore 17 truyền dan không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự” (khoản 10 Điều 4). Như vậy hiểu một cách đơn giản, hợp dong điện tử là hợp đồng thể hiện bang hình thức điện tử. Diễn giải chỉ tiết hơn, hợp đồng điện tử là sự thỏa thuận giữa các bên, thông qua các phương tiện hoạt động dua trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tinh, truyền dan không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự, nhằm quy định quyên và nghĩa vụ đối với nhau.
Đặc điểm của hợp đồng điện tử Hợp đồng điện tử bản chất là hợp đồng do đó nó có những đặc điểm cơ bản của hợp đồng. Và tương tự như hợp dong truyền thống, hợp đồng thông minh có những đặc điểm: Tham gia vào hợp đồng điện tử có ít nhất hai bên chủ thể; nội dụng hợp đồng điện tử rất đa dang (hợp đồng mua bán, hợp đồng vay mượn.); Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cắm của luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, do đặc thù về mặt kỹ thuật cũng như pháp lý nên hợp đồng điện tử có những đặc điểm khác biệt so với hợp đồng truyền thống. * Chủ thể giao kết hop dong điện tử Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia giao kết hợp đồng.
Khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên tham gia phải thể hiện ý chí của mình trên cơ sở tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hoặc lừa dối. Khác với hợp đồng truyền thống, bên cạnh các chủ thể thực hiện giao kết (bên đề nghị và bên chấp nhận dé nghị) hợp đồng điện tử còn có một chủ thể có vai trò quan trọng dé đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng. Đó là luôn có sự tham gia của nhà cung cấp mạng viễn thông và dịch vụ chữ ký số. Tham gia vào giao dịch điện tử, chủ thê này vừa có vai trò hỗ trợ truyền tải dữ liệu, vừa có vai trò xác nhận, lưu trữ thông tin với độ tin cậy nhất định.
Thực tế, việc xác định chủ thé qua mạng Internet còn gặp nhiều khó khăn. Các chủ thể tham gia vào hợp đồng thường ít hoặc có thê không quen biết nhau, xa cách về mặt địa lý và ngay cả khi thực hiện xong cũng không 18 biết nhau. Việc xác định năng lực chủ thể và thông tin chủ thể tham gia giao kết hợp đồng là quan trọng và không đơn giản. Do đó cần thận trọng về rủi ro pháp lý về chủ thê giao kết hợp đồng là có thể xảy ra.
* Cách thức ký hết và công cụ thực hiện hợp đồng điện tử Đặc điểm nổi bật nhất của hợp đồng điện tử là cách thức ký kết và công cụ thực hiện. Với đặc thù của mình, hợp đồng điện tử được ký kết và tạo lập bởi các thông điện đữ liệu. Trong giao kết hợp đồng điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu.