Chương I KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIÊN CỦA MANGA, ANIME TRƯỚC NĂM 1952 VÀ NHUNG YEU TO ANH HƯỚNG DEN SỰ PHÁT TRIEN CUA MANGA, ANIME GIAI DOAN 1952 - 1990 1. Quá trình hình thành và phát triển của manga và anime trước năm 1952 Không phải đến thập niên 50 của thế kỷ XX, manga và anime mới xuất hiện. Thực tế, hai loại hình này đã ra đời từ trước đó, khoảng hơn 30 năm đối với anime và thậm chí là khoảng 3 thế kỷ đối với manga. Sự lầm tưởng manga và anime là những loại hình mới là do phải đến thập niên 50 của thế kỷ XX, manga và anime mới trở thành một sản phẩm của văn hóa đại chúng Nhật Bản và trở thành một hiện tượng toàn cầu trong những năm sau đó.
Chính vì vậy, có thể phân chia sự phát triển của manga và anime thành hai thời kỳ, được phân chia bởi mốc thời gian năm 1952 gắn sự thay đôi cơ bản về cách trình bày và nội dung của manga, kéo theo đó là mối liên hệ giữa anime và manga. Đề thuận tiện cho việc nghiên cứu, tác giả luận văn tạm gọi manga và anime trước năm 1952 là manga, anime truyền thống và sau năm 1952 là manga, anime hiện dai. Sự phát triển của một số loại hình công nghiệp giải trí Nhật Bản giai đoạn trước năm 1952 Dựa theo những định nghĩa về công nghiệp giải trí Nhật Bản, phần này chủ yếu trình bày sơ lược sự phát triển của một số loại hình công nghiệp giải trí Nhật Bản trước năm 1952 là điện ảnh và âm nhạc. Sự phát triển của manga và anime trước năm 1952 sẽ được trình bày ở phan sau nhằm phân tích kỹ lưỡng hơn sự phát triển của hai loại hình này.
Trước hết là về ngành điện ảnh Nhật Bản. Có nhiều quan điểm khác nhau về sự ra đời của ngành điện ảnh Nhật Bản. Những quan điểm này được chia làm hai hướng chính. Hướng thứ nhất cho răng, điện ảnh Nhật Bản ra đời vào những năm cuối của cuộc Duy tân Minh Trị (khoảng cuối năm 1896, đầu năm 1897), găn VỚI SỰ du nhập của công nghệ chiếu phim của phương Tây.
Trong khi đó, hướng thứ hai 14 cho rằng, điện ảnh Nhật Bản đã xuất hiện rat sớm từ thời ky Edo thông qua các buồi biểu diễn, triển lãm giải trí điển hình như “misemono”. Trong các buổi biểu diễn này, nhiều loại hình nghệ thuật được trình diễn cho đông đảo khán giả và một trong số đó là nghệ thuật trình chiếu các bức tranh chuyển động hay nghệ thuật múa rối bóng. Nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng đây mới là sự khởi đầu của điện ảnh Nhật Bản [52, 214]. Hai quan điểm trên đều đã nêu lên những khía cạnh khác nhau về sự bắt đầu của ngành điện ảnh Nhật Bản.
Slater, phải đến những năm cuối thé kỷ XIX, đầu thế ky XX, với sự du nhập của điện ảnh phương Tây (bao gồm các bộ phim và kỹ thuật làm phim), ngành điện ảnh ở Nhật Bản mới phát triển. Người Nhật có thé thích ứng nhanh và học hỏi kỹ thuật này ngay lập tức là do họ đã có một nghệ thuật truyền thống có cơ chế hoạt động gần giống với điện ảnh [52, 214]. Cho đến khoảng năm 1910, các sản phẩm điện ảnh của Nhật Bản bắt đầu ra đời dù cho mới chỉ dừng lại ở những thước phim ngắn và những bộ phim lồng tiếng của các hãng phim nhỏ lẻ. Sang đến năm 1912, một số hãng phim bắt đầu có xu hướng sáp nhập với nhau thành lập các công ty lớn.
Việc này đã góp phần giúp cho chất lượng các bộ phim được tăng lên. Trong những năm sau đó, ngành điện ảnh Nhật Bản tiếp tục phát triển. Từ năm 1930 trở đi, “phim đã lồng được tiếng” (talkie) trở thành loại hình giải trí ưa chuộng của đại chúng. Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, “Nhật Bản đã nhận thức phim ảnh là một vũ khí tuyên truyền hết sức quan trọng và đã đầu tư khá nhiều công sức vào lĩnh vực này” [23, 172].
Ngày 31/12/1940, bộ phim Nhật Bản đầu tiên được công chiếu ở Đông Dương với tựa đề “Tin tức hải ngoại Nhật Bản”. Đồng thời, trong hoạt động chiếu phim, người Nhật đã chú trọng việc phục vụ thị hiểu và phiên dịch cho người bản địa. Việc tuyên truyền văn hóa Nhật Bản thông qua việc chiếu phim thời kỳ này trên thực tế nhằm mục đích “đồng hóa” người bản địa, làm cho họ cảm thấy văn hóa Nhật Bản ưu việt dé lôi kéo người bản địa theo Nhật Bản. Đồng thời, là công cụ dé chống lại những tuyên truyền của các nước Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc.
Chính vì vậy, các sản phâm này mang nhiêu yêu tô chính trị và mang tính chât ép buộc. Tuy 15 nhiên, đây cũng là một trong những sản phẩm công nghiệp giải trí Nhật Bản đầu tiên được giới thiệu với thị trường nước ngoài. Đối với ngành công nghiệp âm nhạc, đây là một loại hình nghệ thuật truyền thống của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, công nghiệp âm nhạc lại là một điều mới mẻ, mang tính hiện đại ở bat cứ quốc gia nào.
Rất khó dé chỉ ra mốc thời gian cụ thé dé làm thời điểm bắt đầu của công nghiệp âm nhạc nhưng công nghiệp âm nhạc chắc chăn phải ra đời cùng với văn hóa đại chúng. Như vậy, ít nhất phải đến thời kỳ Duy tân Minh Tri với những cải cách trên mọi mặt của đời sống xã hội và sự du nhập của văn hóa phương Tây thì công nghiệp âm nhạc mới manh nha xuất hiện. Tiếp đó, trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, với sự phát triển ban đầu của văn hóa dai chúng trước tác động của trào lưu “Dân chủ Đại Chính”, âm nhạc của Nhat Bản tiếp tục phát triển và đã đạt được một số thành tựu với một số nghệ sĩ nồi tiếng như nữ ca sĩ Opera Miura (tên thật là Shibata) Tamaki (1884 - 1952) đã lưu diễn khắp nơi trên thế giới vở Hồ Điệp phu nhân (Madam Butterfly) của danh sư người Ý Puccini suốt giai đoạn từ Đại Chính sang Chiêu Hòa. Vào thoi Minh Tri, người Nhật cũng biết kỹ thuật thu nhạc vào đĩa và sang đến thời Đại Chính thì đĩa hát được tung ra rất nhiều trên thị trường.
Về mặt quản lý của Chính phủ đối với lĩnh vực âm nhạc, ngày 7/11/1870, Chính phủ thành lập một văn phòng gagaku, với biên chế gồm nhạc sĩ từ các gia đình đã từng phục vụ tại triều đình Kyoto hoặc tại các ngôi đền Nara Kðfukuji va Osaka Shitenndji. Những người này có nhiệm vụ giám sát và quản lý nền văn hóa âm nhạc hoàng gia. Sang dau thế kỷ XX, các “hội bảo tồn” có nhiệm vu bảo tồn và phổ biến nhạc dân gian hoặc nghệ thuật biểu diễn cé truyền của địa phương bắt đầu xuất hiện. Từ năm 1925 đến năm 1936, “Lễ hội ca múa và hát dân gian” (Kyodo Buyõ to Min'yo no Kai) được tô chức hằng năm; hai năm sau, một “Hiệp hội Nghệ thuật Dân gian” (Minzoku Geijutsu no Kai) cũng được thành lập.
Xét về tong thé, cả ngành điện ảnh lẫn âm nhạc của Nhật Bản đều bắt đầu xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cùng với sự xâm nhập của văn hóa phương Tây. Thời điểm này các ngành điện ảnh hay âm nhạc phát triển một 16 cách riêng lẻ và từng bước được Chính phủ quản lý. Sử dụng khái niệm “ngành công nghiệp” một cách đầy đủ như hiện nay đối với điện ảnh hay âm nhạc lúc này chưa thực sự xứng tầm, tuy nhiên, có thé coi đây là giai đoạn dau, giai đoạn nền tảng cho sự phát triển của ngành điện ảnh và ngành âm nhạc sau này. Sự hình thành và phát triển của manga, từ truyền thống đến hiện đại Manga (SÏEl), phiên âm Hán - Việt là “mạn họa”.
Theo từ điển Hán - Việt, “mạn” nghĩa là đầy tràn, tản mạn, không bị gò bó, nói cách khác, mang tính tự do, phóng khoáng, không bị ép buộc; trong khi đó, “họa” nghĩa là bức tranh. Như vậy, hiểu theo nghĩa triết tự, manga là những bức họa phóng tác, tản mạn, không bị gò bó, ép buộc [65]. Có nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của manga. Có ý kiến cho rằng: “Từ “Manga” được sử dụng lần đầu tiên năm 1798, dùng đề chỉ các bức tranh của họa sĩ Santo Kyoden.
Sau đó, người ta sử dụng từ “manga” dé chỉ tranh vẽ hoặc các tuyên tập tranh vẽ của các họa sĩ Nhật Bản trong quá khứ. Phải đến tận năm 1902, “manga” mới được sử dụng với nghĩa là truyện tranh” [74]. Trong khi đó, Robin E. Brenner trong cuốn sách Understanding manga and anime đã giải thích cặn kẽ hơn về sự ra đời của manga.
Theo ông, nguồn gốc của manga bắt đầu từ những cuộn tranh do các nhà sư ở Nhật Bản vẽ vào khoảng thé kỷ XII. Trong đó, nổi bật nhất là “cuộn vẽ về động vật” Choju Giga được cho là do thiền sư Toba vẽ. Choju Giga đã miêu tả một chuỗi dài hoạt động, biểu cảm của những động vật, bao gồm cả khỉ, cáo, thỏ, v. trên một cuộn giấy dai [28, 1].
Qua miêu ta sơ lược về nội dung của Choju Giga, có thé thay đây là một tác phẩm có những đặc điểm của nghệ thuật tuần tu’. Nghệ thuật tuần tự được các nhà nghệ thuật và những nhà nghiên cứu về nghệ thuật thừa nhận là nguồn gốc ra đời của truyện tranh. Vì vậy, có thé nói, việc luận giải nguôn gôc manga của Brenner như trên là hoàn toàn hợp lý. 7 “Nghệ thuật tuần tự” là một thuật ngữ được sử dụng trong nghiên cứu truyện tranh.
Thuật ngữ này lần đầu được sử dụng bởi Will Eisner trong cuốn sách Comic and Sequential Art xuất bản năm 1985. Nghệ thuật tuần tự nghĩa là sử dụng các hình ảnh được triển khai theo một thứ tự cụ thể nhằm mục đích kể chuyện bằng hình ảnh hoặc truyền dat thông tin (Xem thêm Will Eisner: Comic and Sequential Art, Poorhouse Press, US, 1985). 17 Brenner cũng cho rằng, bước phát triển tiếp theo của manga là vào khoảng những năm 1600 - 1867 (thời ky Edo), với việc áp dụng kỹ thuật in khắc gỗ trong việc vẽ tranh. Trong lịch sử văn hóa Nhật Bản, đây được coi là thời kỳ phát triển, đan xen của nhiều khuynh hướng văn hóa.
Nguyễn Văn Kim nhận định: “trên cơ sở kế thừa những thành tựu của giai đoạn trước, hội họa Edo cũng có nhiều trường phái. trường phái ukiyo lại rất đa dạng về chủ đề, màu sắc cũng như lối thé hiện. Nhiều tác phẩm của dòng tranh này vẽ về cuộc sống, hoa lá, cảnh vật. rất thân thuộc với đời sống thường ngày của giới bình dân” [5, 235].