Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Nội dung của luận án liên quan đến sự vận động của hệ thống đảng chính trị trong bối cảnh diễn ra quá trình dân chủ hóa với các trường hợp nghiên cứu tại ba nước ASEAN trong khu vực Đông Nam Á. Do vậy, việc khảo sát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án sẽ tập trung vào các nghiên cứu có tính lý luận về hệ thống đảng chính trị, về sự ổn định/biến đổi của hệ thống đảng chính trị cũng như các nghiên cứu về quá trình dân chủ hóa tại Đông Nam Á và vai trò của hệ thống đảng chính trị đối với quá trình này tại ba nước được nghiên cứu là Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Những vấn đề lý luận về sự biến đổi của hệ thống đảng chính trị trong quá trình dân chủ hóa Tổng quan khảo sát hệ thống các tư liệu liên quan đến hệ thống đảng chính trị trong quá trình dân chủ hóa trên các nội dung: (1) hệ thống đảng chính trị; (2) Sự biến đổi/ổn định của hệ thống đảng chính trị trong quá trình dân chủ hóa; và (3) Vai trò của hệ thống đảng chính trị đối với quá trình dân chủ hóa. Hệ thống đảng chính trị Về cơ bản, lý thuyết về hệ thống đảng chính trị nghiên cứu: (1) Nguồn gốc của hệ thống đảng chính trị; (2) Phân loại hệ thống đảng chính trị, qua đó giải thích vì sao hệ thống đảng chính trị lại khác nhau và xác định những những nhân tố quyết định cho việc phân loại các hệ thống đảng chính trị; và (3) Sự phát triển (ổn định/biến đổi) của hệ thống đảng chính trị.
Nguồn gốc hệ thống đảng chính trị (i) Khái niệm hệ thống đảng chính trị: Liên quan đến câu hỏi vì sao một hệ thống được gọi là hệ thống đảng chính trị và những yếu tố nào sẽ quy định nên chức năng của một hệ thống đảng chính trị. 14 Trong bài “Democratic Party Systems in Europe Dimensions, Change and Stability” (Hệ thống đảng chính trị dân chủ trong các chiều cạnh của châu Âu, sự ổn định và biến đổi, 1982) [229] đăng trên Tạp chí nghiên cứu chính trị Bắc Âu, các tác giả S. Lane chỉ ra một hệ thống đảng chính trị cũng giống như bất kỳ hệ thống nào khác, bao gồm các bộ phận cấu thành (là các đảng chính trị) và mối quan hệ giữa chúng. Tuy nhiên việc xác định mối quan hệ không đơn giản như việc chỉ ra các bộ phận cấu thành (các đảng chính trị).
Hệ thống đảng chính trị được nhận thức là một thực thể khác với đảng chính trị (không chỉ là một tập hợp đơn giản của các đảng chính trị mà bao gồm một tập hợp các đảng chính trị hoạt động trong phạm vi một quốc gia theo một mô hình có tổ chức và được mô tả bởi một số lượng các thuộc tính của hệ thống đảng chính trị). (ii) Sự hình thành hệ thống đảng chính trị: Cuốn sách “Comparing Party System Change” (So sánh sự biến đổi hệ thống đảng chính trị, 1998) [204] do Paul Pennings và Jan-Erik Lane chủ biên cho rằng các hệ thống đảng chính trị là những cấu trúc phức hợp cần phải được hiểu trên góc độ của sự phát triển lịch sử của quá trình dân chủ hóa hệ thống chính trị. Mặt khác, các mô hình tương tác mới xuất hiện giữa các đảng chính trị tại các nền dân chủ khác nhau tại châu Âu – qua đó định hình nên hệ thống đảng chính trị - cho thấy những điểm trùng hợp đáng lưu ý về hành vi tương tác giữa các đảng chính trị (mức độ và kiểu cạnh tranh) và cả những chiến lược các đảng chính trị thực thi (mức độ và hình thức hợp tác). Nói cách khác, các hệ thống đảng chính trị đã xuất hiện tại tất cả các nền dân chủ tự do châu Âu, chia sẻ nhiều đặc trưng quan trọng tương tự nhau nhưng đồng thời có cả những khác biệt lớn mang tính xuyên quốc gia và vượt thời gian, theo cách mà hệ thống đảng chính trị hoạt động và tác động đến sự vận hành của các nền dân chủ tại châu Âu.
15 Bài nghiên cứu “Cleavage Structures, Party Systems and Voter Alignments” (Những cấu trúc phân hóa, các hệ thống đảng chính trị và liên kết cử tri, 1967) [168] của M. Rokkan đã lý giải vì sao hệ thống đảng chính trị tại các nước khác nhau lại có những điểm tương đồng đặc trưng và những đặc trưng đó là gì. Hai học giả đã đưa ra mô hình phân hóa xã hội học – lịch sử nhằm giải thích cho sự hình thành và tính lâu bền của các hệ thống đảng chính trị Tây Âu. Nguồn gốc, xuất xứ của các đảng chính trị và mối liên kết của chúng với một tập hợp ổn định các phân hóa trong xã hội, được hình thành trong những giai đoạn đầu của xây dựng nhà nước được phác họa trong nghiên cứu này.
Bốn tiếp cận về phân hóa cấu trúc xã hội cũng được đưa ra, trong đó phân hóa tư bản và lao động được coi là có sức ảnh hưởng lớn nhất. Phân hóa thứ hai có nguồn gốc từ cách mạng công nghiệp là sự chia rẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp. Hai phân hóa còn lại bao gồm phân hóa giữa trung tâm với ngoại vi và phân hóa giữa nhà nước với nhà thờ. Theo hai tác giả, chỉ những đảng chính trị phản ánh bốn phân hóa trên mới có khả năng tồn tại và phát triển trên khía cạnh bầu cử và thiết chế.
Nhóm những đảng này tạo nên xương sống của hệ thống đảng chính trị hiện đại trong phạm vi bối cảnh châu Âu. Thành phần và sự cân bằng trong hệ thống đảng chính trị được định hình, phát triển tại mỗi nước và sẽ có sự khác biệt, tùy thuộc mỗi một xã hội cụ thể. Nhận xét về cách tiếp cận phân hóa trong lý thuyết của Lipset và Rokkan, tác giả cuốn “Comparing Party System Change” cho rằng cách tiếp cận này là chủ đề chính trong lý thuyết hệ thống đảng chính trị. Trong số bốn phân hóa xã hội do Lipset và Rokkan nêu ra, các hệ thống đảng chính trị là sản phẩm của hai quá trình cơ bản (cách mạng dân tộc và cách mạng công nghiệp).
Cùng quan điểm với nhận định này, tác giả Simon Bornschier trong bài nghiên cứu “Cleavages Politics in Old and New Democracies” (Chính trị 16 phân hóa trong các nền dân chủ cũ và mới, 2009) [223] cho rằng trên khắp châu Âu, quá trình song sinh của các cuộc cách mạng dân tộc và công nghiệp đã tạo thành “những thời điểm bước ngoặt” quyết định sự phát triển chính trị tiếp theo, và đã dẫn tới sự liên kết lâu dài giữa các nhóm xã hội và các đảng chính trị. Phân hóa (cleavage) là khái niệm cơ bản trong nghiên cứu hệ thống đảng chính trị và được nhiều tài liệu đề cập. Trong bài nghiên cứu nêu trên của S. Bornschier, thuật ngữ “phân hóa” được định nghĩa là sự phân chia (tách biệt) sâu sắc và lâu dài giữa các nhóm dựa trên một số loại xung đột.
Trong bài “Identity, Competition and Electoral Availability: The Stabilisation of European Electorates 1885-1985” (Bản sắc, cạnh tranh và sẵn sàng bầu cử: Sự ổn định của các cuộc bầu cử châu Âu 1885-1985; 1990) [67], các học giả Bartolini và Mair đã khái niệm hóa phân hóa. Theo đó một sự chia rẽ chính trị phải bao gồm ba yếu tố: (1) Yếu tố cấu trúc - xã hội, như giai cấp, tôn giáo, địa vị hoặc giáo dục; (2) Yếu tố bản sắc tập thể của các nhóm xã hội; và (3) Một biểu hiện của tổ chức dưới hình thức hành động tập thể hoặc một tổ chức lâu dài của các nhóm xã hội liên quan. Ngoài ra, thuật ngữ phân hóa thường được dành cho các mô hình hành vi chính trị lâu dài, liên kết các nhóm xã hội và tổ chức chính trị, hay thường để chỉ các mối quan hệ thể hiện sự ổn định nhất định. Trong bài viết “Social Structure, Collective Identities & Patterns of Conflict in Party System: Conceptualizing the Formation and Perpetuation of Cleavages” (Cấu trúc xã hội, Bản sắc tập thể và các mô hình xung đột trong hệ thống đảng chính trị: Khái niệm hóa sự hình thành và tồn tại của phân hóa, 2007) [224], S.
Bornschier khẳng định khái niệm phân hóa đóng vai trò trung tâm trong các tài liệu nghiên cứu sự hình thành hệ thống đảng chính trị châu Âu. Như Bartolini và Mair đã nêu, bản sắc tập thể là một trong ba yếu tố tạo 17 thành phân hóa. Vai trò của bản sắc tập thể (niềm tin được chia sẻ, giá trị và hệ tư tưởng) nằm trong quá trình huy động ban đầu cũng như trong quá trình làm cho phân hóa trở nên được kéo dài tiếp sau đó. Cũng trong bài viết này, S.
Bornschier đặt vấn đề tìm hiểu vấn đề liên quan đến “giả thuyết đóng băng” nổi tiếng của Lipset và Rokkan. Cũng liên quan đến lý thuyết phân hóa, trong bài “Cleavage Theory Meets Europe’s Crises: Lipset, Rokkan, and the Transnational Cleavage” (Lý thuyết phân hóa đáp ứng các cuộc khủng hoảng ở châu Âu: Lipset, Rokkan và phân hóa xuyên quốc gia, 2018) [164], các tác giả Liesbet Hooghe và Gary Marks nhận xét lý thuyết phân hóa, bắt nguồn từ Lipset và Rokkan (1967), quan niệm hệ thống đảng chính trị là biểu hiện của những xung đột xã hội tiềm ẩn. Ngày nay, quá trình hội nhập, di cư và thương mại đã tạo ra phân hóa mới (xuyên quốc gia) tại châu Âu. “Giả thuyết đóng băng” được xuất phát từ nhận xét của Lipset và Rokkan vào năm 1967 trong bài nghiên cứu đã được nhắc đến ở phần trên rằng: “Các hệ thống đảng chính trị của những năm 1960 phản ánh, với một số ngoại lệ rất có ý nghĩa, các cấu trúc phân hóa của những năm 1920”.
Liên quan đến nhận xét này, trong phần mở đầu của cuốn “Comparing Party System Change”, P. Lane viết: “Lipset và Rokkan tuyên bố rằng các hệ thống đảng chính trị đã bị đóng băng kể từ khi chúng xuất hiện trên cơ sở các cấu trúc phân hóa đang nổi lên, đây chính là cái gọi là giả thuyết đóng băng. Sự ra đời của chế độ phổ thông đầu phiếu cho nam giới vào lúc ban đầu của thế kỷ XX đã chứng minh chất xúc tác quan trọng làm đóng băng các cấu trúc phân hóa… Việc mở rộng quyền bầu cử cho phép các tổ chức chính trị kết hợp hầu như toàn bộ cử tri có thể được huy động. Sự đóng cửa sớm của thị trường bầu cử đã để lại rất ít dư địa cho sự xuất hiện của những phân hóa mới” (204; tr.