Chương 1 : Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài Chương 2: Phương tiện tường minh trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Quảng Đông) Chương 3: Phương tiện nguyên cấp trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Quảng Đông) 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI I. HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ 1. Khái niệm hành động ngôn từ (Hành vi ngôn từ) Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn ngữ. Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ.
Mối liên hệ giữa ngôn ngữ - hành vi con người là hiển nhiên, trong nghiên cứu ngữ dụng học, loại hành vi này không thể bỏ qua. Hành vi ngôn ngữ là một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Nếu như L Wittgenstein là người đặt tiền đề thì J. Austin lại là người đặt nền móng cho lý thuyết hành động ngôn từ.
Qua công trình nghiên cứu “How to do thing with words” ông bày tỏ luận điểm “To say is to do something” (nói là làm) Ông cho rằng để biểu hiện, diễn tả một hành động ngôn từ thì cần phải nói ra điều đó và làm - đi vào thực tế, thực tiễn sử dụng ngôn ngữ. Từ luận điểm này mà người ta đã xây dựng nên lý thuyết về hành động ngôn từ. Như vậy, hành động ngôn từ là nhấn mạnh bản chất của câu nói. Khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thực hiện một hành động nào đó.
Chẳng hạn như thông báo, khuyên, chúc mừng, tuyên bố, hứa hẹn,… Đó là những hành động được thực hiện bằng ngôn từ và được gọi là hành động ngôn từ. Thuật ngữ “hành động ngôn từ” có thể khiến nhiều người hiểu nhầm. Nó bị coi là đồng nghĩa với “hành động phát ngôn ra câu nói” hơn là để biểu thị như nó đã biểu thị, một bộ phận cụ thể nào đó của sản phẩm nói năng. Trong lý thuyết của mình, J.Austin xem hành động ngôn từ là một thể thống nhất những hành động: - Hành động tạo lời (locutionary act) - Hành động tại lời (illocutionary act) - Hành động mượn lời (perlocutionary act) 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các hành động ngôn từ 1. Hành động tạo lời J.Austin đặt tên cho hành động này là “nói một điều gì đó”. Đây là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp để tạo nên một câu nói.Hành động tạo lời là các chất liệu ngôn ngữ như đơn vị từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, cách phát âm được người nói lựa chọn sử dụng trong câu nói. Đó là phần nghĩa biểu thị thực tại khách quan trong câu.Là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu.
để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành động tại lời Hành động tại lời là nói một điều gì đó và thực hiệnđiều đó như thế nào và thực hiện hành động ấy phải ngay khi phát ra câu nói. Hành động được thực hiện ngay trong khi nói, là hành động ngôn từ thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của câu. Hành động tại lời cũng gọi là hành động ngôn trung của câu, nó tạo nên giá trị ngôn trung của câu.Đó là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Ví dụ về hành vi ở lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, hứa hẹn, khuyên bảo v. khi chúng ta hỏi ai về một cái gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta, cho dù trả lời không biết. Không trả lời, không đáp lại câu hỏi, người nghe bị xem là không lịch sự.
Khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời có ý định (hay có đích), có quy ước và có thể chế. Dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Có thể nói, nắm được ngôn ngữ không chỉ nắm được ngữ âm, từ ngữ, câu v. của ngôn ngữ đó mà còn nắm được những quy tắc điểu khiển các hành vi ở lời trong ngôn ngữ đó, có nghĩa là biết các quy tắc để “hỏi”, “hứa hẹn”, “yêu cẩu”, “mời”.
sao cho đúng lúc đúng chỗ, cho thích hợp với ngữ cảnh, với người được hỏi v. Thí dụ ở xã hội Việt Nam và Á Đông nói chung, hỏi SP2 về tuổi tác, về tình trạng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hôn nhân. là được phép, là tỏ sự quan tâm của ngửời hỏi với người được hỏi. Trái lại, hỏi về vấn đề đó trong xã hội phương Tây lại bị xem là không lịch sự.
Ví dụ: – Không nói chuyện riêng. (Hành động tại lời là đề nghị học sinh không nói chuyện riêng trong lớp) Vì vậy hành động tại lời chính là lực ngôn trung, là đích phát ngôn. Nó bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng với những điều kiện sử dụng được thực hiện. Cốt lõi của hành động ngôn từ chính là hành động tại lời.
Hành động mƣợn lời Hành động mượn lời là hành động thông qua phương tiện ngôn ngữ tác động đến tâm lí, hành động người nghe để tạo ra hiệu quả ngoài ngôn ngữ như xúc động, yên tâm, phấn khởi v.v…Đó là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ, nghe phát ngôn sai khiến: Đóng cửa lại! SP2 có thể đứng dậy, đi ra cửa và đẩy cánh cửa cho kín lại, anh ta cũng có thể bực tức, càu nhàu, tỏ vẻ khó chịu. Hành động vật lí đóng cửa, sự bực tức đều thuộc hành vi mượn lời. Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn.
Có những hiệu quả mượn lời là đích của một hành vi ở lời (như đóng cửa là hiệu quả mượn lời của hành vi ở lời điều khiển), nhưng cũng có những hiệu quả không thuộc đích của hành vi ở lời (như vùng vằng, gắt gỏng, khó chịu khi nghe lệnh). Những hiệu quả mượn lời rất phân tán, không tính toán đƣợc. Chúng không có tính quy ước (trừ hành vi mượn lời đích của hành vi ở lời).Với một hành động mượn lời, người nghe có thể không nhậnra ngay mặc dù hiểu được hành động tại lời. Một hành động tại lời có thể có nhiều hành động mượn lời khác nhau.
Ví dụ : * Một hành động tại lời là người nói không muốn tiếp chuyện với người nghe và đưa ra một lời yêu cầu trực tiếp: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tiếng Việt: - Anh về đi cho em ngủ. Tiếng Quảng Đông : -你返去啦俾我訓下. * Hành động mượn lời có thể là một trong những trường hợp sau: Tiếng Việt : - Mấy giờ rồi anh? Tiếng Quảng Đông : - 宜家幾點咧? Tiếng Việt : - Ngày mai em phải dậy sớm. Tiếng Quảng Đông : - 聽日我要早起。 Tiếng Việt : - Anh à ! Mẹ thường nhắc nhở em đi ngủ sớm kẻo bị ốm,… Tiếng Quảng Đông : - 啊,我媽都成日同我講要早啲訓唔陣會生病嘅。 1.
Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ Hành động ngôn từ được thể hiện rõ nét trong hoạt động giao tiếp của con người. Mỗi hành động ngôn từ phải có những điều kiện nhất định thì hành động mới được thực hiện. Muốn cho người nghe thực hiện một hành động nào đó như yêu cầu (要求), đề nghị(俾意見), sai bảo(指使,吩咐), khuyên răn(勸 告)… mà người nói mong muốn thì người nói phải lựa chọn cách nói nào đó để người nghe không chỉ hiểu điều mình nói ở bề mặt ngôn từ mà còn tri nhận được đích ngôn trung. Bởi vậy, để đạt được hiệu quả trong giao tiếp, người nói cần quan tâm đến các điều kiện sử dụng của các hành động ngôn từ này.
Những điều kiện chi phối ấy, L.Wittgenstein gọi là “trò chơi ngôn ngữ” vàJ.Austin cũng đưa ra luận điểm “nói là làm”, nói là một cách sử dụng âm thanh ngôn ngữ để bộc lộ một nội dung thông báo nào đó. Đối với hành động ngôn từ tạo lời, các điều kiện sử dụng và cấu tạo của nó là về ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp của một ngôn ngữ. Chonên nếu muốn yêu cầu (要求), đề nghị (俾意見), sai bảo (指使,吩咐), khuyên răn (勸 告)…người nào đó thì chắc chắn cả người nói lẫn người nghe phải đồng nhất 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một ngôn ngữ. Có như thế thì cuộc hội thoại bằng ngôn ngữ mới được diễn ra và hành động đó mới được thực hiện.
Đồng thời các phía người nói lẫn người nghe không bị hạn chế về mặt sinh lý như câm (phía người nói) và điếc (phía người nghe). Các hành động tại lời cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định. Các hành động tại lời bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng vì vậy mỗi loại hành động tại lời có những điều kiện sử dụng của nó mà Austin gọi tên chúng là những điều kiện thuận lợi. Về vấn đề này Searle chia làm 3 loại chính như sau: Điều kiện ban đầu Điều kiện chân thành ( chân thực) Điều kiện thiết yếu (điều kiện căn bản) 1.
Điều kiện ban đầu Điều kiện này liên quan đến quan hệ giữa hai người: người nói và người nghe, tới những ý nguyện, lợi ích và khả năng của người nghe. Ví dụ: Hành động ngôn từ ra lệnh. Về quyền lợi: người nói là người ra lệnh, người nghe là người nhận lệnh Người nói là người có lợi, người nghe là người bị thiệt (về thời gian, công sức hay tiền của…) Về vị thế giao tiếp: Người nói có vị thế giao tiếp (biểu hiện vị thế xã hội) cao hơn hoặc là người bậc trên. Người nghe có vị thế giao tiếp thấp hơn hoặc là người bậc dưới (trong trường hợp vị thế xã hội không bình đẳng) Hệ quả là tính bắt buộc cao.
Ra lệnh là làm một việc gì đó cho tôi, hoặc cho cả anh và cả tôi hoặc không liên quan gì đến anh nhưng anh vẫn phải làm. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.