Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Ở chương này, tác giả hệ thống một số lý thuyết nền về đầu tư ra nước ngoài và các nghiên cứu trước đây của Việt Nam và trên thế giới về các nhân tố tác động đến FDI.
Dựa trên cơ sở những bằng chứng thực nghiệm này tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và thực hiện kiểm định với dữ liệu là các doanh nghiệp Việt Nam có đầu tư ra khu vực Đông Nam Á. Chương 3: Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, mô tả biến, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu. Chương 4: Kết quả thực nghiệm.
Trong chương này, tác giả trình bày các kết quả kiểm định của đề tài cho trường hợp ở Việt Nam mà tác giả phát hiện được. Chương 5: Kết luận. Tác giả kết luận chung cho toàn bộ nội dung luận văn, từ đó đưa ra những gợi ý chính sách cho các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài, tiếp đến là xác định những hạn chế của luận văn, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.
Định nghĩa FDI Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế, khi đầu tư trực tiếp nước ngoài doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lâu dài tại một nền kinh tế khác, với mục đích là tăng tầm ảnh hưởng đến nền kinh tế đó. Theo Luật Đầu Tư của Việt Nam năm 2005, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo Ngân hàng thế giời, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là dự án đầu tư từ nước ngoài, có lãi suất trên 10%.
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FDI) là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư từ quốc gia đi đầu tư đến quốc gia nhận đầu tư, thành lập tổ chức kinh tế ở nước ngoài và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của tổ chức đó. Các lý thuyết về FDI Để hiểu được FDI, đầu tiên phải hiểu được động lực nào thúc đẩy các doanh nghiệp lựa chọn hình thức đầu tư FDI. Bằng cách xem xét các kết quả đầu tư khác nhau: đầu tư trong nước, đầu tư ra nước ngoài, thực hiện các hoạt động của các công ty đa quốc gia hay đầu tư vào cổ phiếu (Lipsey, 2001), các nhà đầu tư sẽ lựa chọn thực hiện FDI đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thay vì xuất khẩu hoặc các công ty trong nước thuê sản xuất ở bên ngoài. Trên thực tế khi nghiên cứu giải thích hiện tượng FDI, và chưa có lý thuyết nào được thống nhất chung cho FDI.
Tuy nhiên, theo Kindleberger (1969) tất cả các nghiên cứu đều đồng ý với ý kiến rằng, trong một thế giới cạnh tranh hoàn hảo, đầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tư trực tiếp nước ngoài sẽ không còn tồn tại. Những thất bại của thị trường sẽ thu hút FDI của các MNC, MNC sẽ tận dụng những lợi thế của mình từ công nghệ và thông tin vượt trội nhằm tạo cơ hội để MNC chiếm lĩnh thị phần. Do đó, nếu thị trường hoạt động hiệu quả và không có rào cản về thương mại hoặc cạnh tranh, thương mại quốc tế là cách duy nhất để tham gia vào thị trường quốc tế. Phải có một mô hình không hoàn hảo của thị trường thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mới được thực hiện, và Hymer là người đầu tiên nhận thấy điều này.
Ông tin rằng các doanh nghiệp địa phương luôn luôn có được thông tin về môi trường kinh tế địa phương tốt hơn, và đối với các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài muốn thực hiện, hai điều kiện sau là cần thiết: 1. Các công ty nước ngoài phải có những lợi thế nhất định để có thể thực hiện đầu tư. Thị trường các doanh nghiệp thực hiện đầu tư đến là thị trường không hoàn hảo. Có rất nhiều nghiên cứu cố gắng giải thích FDI, và điều tất yếu xảy ra là trước khi có những nghiên cứu thành công, đã có nhiều nghiên cứu thất bại khi giải thích hiện tượng FDI.
Ví dụ lý thuyết Ricardo về lợi thế so sánh, lý thuyết danh mục đầu tư đã thất bại khi cố gắng giải thích hiện tượng FDI. Do lý thuyết Ricardo chỉ dựa trên 2 quốc gia, 2 sản phẩm, và khả năng di chuyển hoàn hảo của các nhân tố ở cấp độ địa phương. Lý thuyết danh mục cũng chỉ giải thích về việc đạt được các khoản đầu tư nước ngoài trong một danh mục đầu tư, nhưng không thể giải thích các khoản đầu tư trực tiếp. Ngược lại, những nghiên cứu về FDI được phát triển bởi J.Vernon đã thành công khi giải thích hiện tượng FDI và cho ra đời các lý thuyết sau: 2.
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon giải thích FDI TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm được phát triển bở Vernon năm 1966, được sử dụng để giải thích một số loại hình FDI của các công ty của Mỹ đầu tư vào khu vực Tây Âu sau Thế chiến II trong ngành cộng nghiệp chế tạo. Vernon tin rằng có bốn giai đoạn của chu kỳ sản phẩm: đổi mới, tăng trưởng, trưởng thành và suy giảm. Theo Vernon, trong giai đoạn đầu tiên các công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ sáng tạo tạo ra những sản phẩm mới cho tiêu dùng trong nước và sau đó xuất khẩu phần thặng dư để phục vụ cho thị trường nước ngoài. Theo lý thuyết về chu kỳ sản phẩm, sau Chiến tranh thế giới II ở Châu Âu, nhu cầu về các sản phẩm chế tạo cũng tăng như ở Mỹ.
Do đó, các công ty Mỹ bắt đầu xuất khẩu, nhờ có lợi thế về công nghệ hơn so với các đối thủ cạnh tranh quốc tế. Trong giai đoạn đầu tiên của chu kỳ sản phẩm, các nhà sản xuất có lợi thế bằng cách sở hữu các công nghệ mới, khi sản phẩm đến giai đoạn phát triển thì công nghệ sản xuất cũng được biết đến. Các nhà sản xuất sẽ chuẩn hóa sản phẩm của mình, và các công ty khác sẽ sao chép công nghệ và cho ra đời sản phẩm đó. Do đó, các công ty Châu Âu đã bắt đầu sản xuất các sản phẩm mà các công ty Mỹ đang xuất khẩu sang khu vực này.
Các công ty Hoa Kỳ bị buộc phải thực hiện các cơ sở sản xuất tại Châu Âu để duy trì thị phần của mình ở Châu Âu. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái trên thị trƣờng vốn không hoàn hảo của Cushman giải thích FDI Ban đầu rủi ro ngoại hối được phân tích từ khía cạnh thương mại quốc tế. Cushman (1985) đã phân tích ảnh hưởng của sự không chắc chắn của tỷ giá ngoại tệ như là một yếu tố ảnh hưởng đến FDI. Trong phân tích thực nghiệm, Cushman cho thấy rằng tỷ giá hối đoái thực tăng cường kích thích FDI khi được thực hiện bằng USD, trong khi đó, ngoại tệ tăng đã làm giảm FDI của các doanh nghiệp Hòa Kỳ.
Cushman kết luận rằng sự tăng giá đồng đô la đã làm giảm FDI vào Hoa Kỳ 25%. Lý thuyết nội bộ hóa của Buckley và Casson giải thích FDI TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Lý thuyết này được phát triển bởi Buckley và Casson, năm 1976 và sau đó được phát triển bởi Hennart, năm 1982 và Casson, năm 1983 nhằm giải thích sự tăng trưởng của các MNC và động cơ để MNC thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Ban đầu, lý thuyết được đưa ra bởi Coase năm 1937 ở cấp độ quốc gia và Hymer năm 1976 ở cấp độ quốc tế. Lý thuyết của Buckley và Casson được gọi là lý thuyết nội bộ hóa do lý thuyết này nhấn mạnh đến việc thành lập các MNC.
Lý thuyết nội bộ hóa dựa trên ba định đề chính: 1. Các công ty tối đa hóa lợi nhuận trong thị trường không hoàn hảo. Thị trường không hoàn hảo là động lực để các công ty tạo ra thị trường nội bộ. Nội bộ hóa trên thị trường trên toàn thế giới tạo ra các MNC.
Một công ty thuộc mẫu nghiên cứu có thể phát triển một công nghệ, quy trình hoặc nguyên vật liệu đầu vào mới. Có thể rất khó để chuyển giao công nghệ hoặc bán nguyên vật liệu cho các công ty khác không liên quan vì các công ty khác thấy chi phí giao dịch quá cao. Với trường hợp này, công ty có thể lựa chọn nội bộ hóa bằng cách sử dụng sản phẩm đầu ra của một công ty con làm đầu vào cho việc sản xuất ở công ty con khác hoặc công nghệ do một công ty con phát triển có thể được sử dụng ở các công ty khác. Khi nội bộ hóa liên quan đến hoạt động ở các quốc gia khác nhau thì gọi là FDI.
Buckley và Casson (1976) đã xác định năm loại hình thị trường không hoàn hảo dẫn đến nội bộ hóa: (1) sự phối hợp các nguồn lực đòi hỏi một thời gian dài: (2) việc khai thác hiệu quả sức mạnh thị trường đòi hỏi phải có chi phí thông tin; (3) độc quyền song phương tạo ra các tình huống mặc cả không ổn định; (4) người mua không thể ước tính chính xác giá của hàng hoá bán; và (5) các can thiệp của chính phủ vào thị trường quốc tế tạo ra động lực cho việc định giá chuyển nhượng. Mặc dù Buckley và Casson thừa nhận nguy cơ can thiệp của chính phủ ở quốc gia nhận đầu tư, nhưng họ không xem xét sự khác biệt về mức độ rủi ro này trong các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 ngành khác nhau. Ví dụ, các ngành công nghiệp phát điện và viễn thông có thể phải đối mặt với nguy cơ lớn hơn về sự can thiệp của chính phủ vì các cân nhắc xã hội có thể yêu cầu cân bằng các mục tiêu cá nhân với các mục tiêu xã hội. Lý thuyết độc quyền nhóm của Knickerbocker giải thích FDI Knickerbocker (1973) cũng xây dựng lý thuyết dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường.