mở đầu cho thời kỳ của chủ nghĩa thực dân, mặc dù đến năm 1511 chưa có một cuộc cách mạng tư sản nào diễn ra. Khi Macao trở về Trung Quốc, năm 1999 được coi là mốc cáo chung của chủ nghĩa thực dân đã từng tồn tại kéo dài ít nhất 5 thế kỷ” [3, tr. Trong suốt quá trình tồn tại của mình, chủ nghĩa thực dân có một vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử nhân loại. Trong cách nhìn của các dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa thực dân là sản phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa, là vết nhơ trong lịch sử nhân loại, vì nó đã tạo ra một thời kỳ đầy bi thương cho các dân tộc thuộc địa ở Á, Phi và Mĩ Latinh.
Xét về mặt không gian, phạm vi bành trướng, xâm lược của chủ nghĩa thực dân, người ta thấy nó không dừng lại ở một khu vực nào, ở một châu lục nào, mà có mặt ở khắp trên thế giới. Nó “đã mở rộng phạm vi thế lực của mình ra 2/3 diện tích địa cầu, có mặt ở tất cả các châu lục. Từ châu Âu rồi Bắc Mĩ, khu vực Mĩ Latinh và cả châu Đại Dương xa xôi” [3, tr. Có thể nói “từ khi bắt đầu xuất hiện cho đến nửa sau thế kỷ XX, thuộc địa vẫn được coi là thước đo sức mạnh, giá trị của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản.
Việc tranh giành thuộc địa là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm bùng nổ hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng loạt các cuộc chiến tranh khu vực (như chiến tranh Anh – Bôơ (1899-1902), Mĩ – Tây Ban Nha (1898), hay sự can thiệp của 8 nước đế quốc vào Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX…). Đồng thời, thuộc địa cũng là một vấn đề chính gây nên những rắc rối, bất ổn trong quan hệ quốc tế, quan hệ song phương giữa các nước lớn, kéo dài nhiều thế kỉ. Chính nhờ có thuộc địa mà một số nước tư bản đã trở thành những cường quốc tư bản hàng đầu và giữ vị trí đó trong một thời gian không phải là ngắn, chi phối thế giới. Điển hình là Anh và sau đó là Pháp.
Đế quốc Anh có hệ thống thuộc địa rộng lớn bao la, đứng đầu thế giới, đó là đế quốc mà “Mặt trời không bao giờ lặn”. Chính nhờ ưu thế về thuộc địa mà mặc dù Anh mất độc quyền về công nghiệp từ cuối thế kỷ XIX nhưng Anh vẫn giữ vị trí đứng đầu thế giới tư bản về sự giàu có, về sức mạnh nói chung. Sau Anh là Pháp. Pháp có hệ thống thuộc địa rộng lớn và đông dân thứ hai sau Anh vì thế vai trò và vị trí của Pháp cũng xếp thứ hai trong thế giới tư bản cho tới tận trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân 13 cũ lần lượt sụp đổ. Vị trí và vai trò của Anh, Pháp dần dần bị đẩy xuống phía sau, trong khi đó Mĩ vươn lên đứng đầu thế giới tư bản cùng với bành trướng thuộc địa bằng chủ nghĩa thực dân trá hình. Mĩ là đế quốc đi đầu trong việc áp dụng chủ nghĩa thực dân trá hình trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân cũ bị nhân loại nguyền rủa và sụp đổ. Do đó, chủ nghĩa thực dân trá hình của Mĩ đã thành công ở một số nơi.
Khi phân tích quá trình xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, phân tích vai trò và vị trí của thuộc địa đối với các nước tư bản, V.I Lênin đã đưa ra một trong năm đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, đó là vấn đề thuộc địa. Có thể nói hệ thống thuộc địa là một trong những đặc điểm không thể thiếu của chủ nghĩa đế quốc. Nói cách khác, thuộc địa là nơi mà “tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy” ở đó” [3, tr. Một số khái niệm và cách nhìn nhận về chủ nghĩa thực dân Khi nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân nói chung hay những khía cạnh có liên quan đến phạm trù này, chúng ta cần phải tìm hiểu qua một số khái niệm như: đế chế, chủ nghĩa đế quốc; thuộc địa, chủ nghĩa thực dân.
Tùy theo cách tiếp cận tài liệu và quan niệm của người nghiên cứu mà các khái niệm này có phần khác nhau. Trong Key Concepts in American History-Colonialism của Darrell J. Kozlowski đưa ra khái niệm về chủ nghĩa thực dân như sau “Chủ nghĩa thực dân là sự mở rộng lãnh thổ của một quốc gia đến những vùng đất bên ngoài biên giới của mình. Những vùng đất mới được thành lập bởi các nước chính quốc được gọi là thuộc địa” [28, tr.
Tương tự như vậy, trong tác phẩm “Sự giàu và nghèo của các dân tộc” tác giả David S. Landes cũng cho rằng: “Chủ nghĩa đế quốc là hệ thống (nguyên lý hay tinh thần) và sự thực hiện đế chế-sự thống trị của một nước đối với những nước khác. Các đế chế lớn lên khi các quốc gia lớn lên, quốc gia này mạnh hơn quốc gia kia. Căn cứ vào cái phả hệ lâu đời đó và mối liện hệ giữa đế chế với chinh phục quân sự và thủ đoạn ngoại giao, với vị trí xã hội, quyền lực và của cải, “đế chế” và “chủ nghĩa đế quốc” đã từng là những từ kiêu hãnh” [4, tr.
Vào cuối thế kỷ 19, khi mà chủ nghĩa tư bản lên đến tột cùng và chủ nghĩa đế quốc cũng lên đến đỉnh điểm như một phát minh hay sản phẩm phụ của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhiều người đã lập luận rằng đế chế là tất yếu và cần thiết cho sự thịnh vượng và sống sót của chủ nghĩa tư bản hiện đại, và rằng 14 chủ nghĩa đế quốc nhằm mục đích trên hết là lợi ích vật chất, ngay cả ở những nơi mà nó phải trả giá và chịu thiệt thòi. Bên cạnh quan niệm như thế, cũng không ít ý kiến trình bày về vấn đề này và nó phản ánh sự cần thiết phải làm mất uy tín của bọn đế quốc và tư bản nhằm khuyến khích sự chống cự và cách mạng, hiển nhiên nó thường xảy ra tại các nước yếu và bị thống trị. “Chủ nghĩa thực dân là chủ nghĩa đế quốc ở dạng còn đen tối hơn nữa.
Đối với nhiều người, nó bao hàm những bất công xã hội, những sự nhục mạ con người, những đòi hỏi và đạo đức buộc người ta phải có những hành động chống lại, những yêu sách về công lý và những cuộc đấu tranh để giải phóng. Từ “colony” vốn có một nguồn gốc chẳng tội tình gì trong xã hội cổ đại, nó có nghĩa là một nơi định cư ở xa-ví như khu định cư của người Phenixi ở Carthage hay những khu định cư của người Hi Lạp ở Ý. Nhưng định cư lại bao hàm những kiểu di dời được sự chỉ định của những người đứng đầu quốc gia tới những vùng đất không phải vô chủ, vì vậy nó không thể nào là tốt hay phù hợp đạo lý, ít nhất là đối với những nạn nhân của sự di dời” [4, tr. Cho nên sự định cư xét như một hệ thống rõ ràng là xấu.
Do vậy mà cũng có nhà nghiên cứu cho rằng: “Chủ nghĩa thực dân là chính sách của các nước đi xâm chiếm nước khác để thống trị, bóc lột. Chủ nghĩa thực dân có mầm mống từ thời cổ đại song phát triển mạnh mẽ, có hệ thống dưới thời tư bản…” [12, tr.107] “… là một hình thức mở rộng sự thống trị tạm thời của người đối với người và như vậy nó là một phần của lịch sử nhân loại với những hình thức thống trị, nô dịch, áp bức và bóc lột” [36, tr. Thậm chí: “Thực dân là một hành động xâm lăng và duy trì sự xâm lăng bằng bạo lực nhằm khai thác và chiếm đoạt những tài nguyên của các nước bị thuộc địa. Đó là một hình thức người bóc lột người, người đè nén người.
Cho nên chế độ thực dân là một chế độ vô nhân đạo, phi chính nghĩa. Vì không thể phơi bày tính chất vô nhân đạo một cách trắng trợn, nên chế độ thực dân phải núp sau những lý tưởng, những chủ nghĩa giả dối để huyễn diệu người ta. Có thể gọi những chủ nghĩa thực dân tạo ra là huyền thoại” [20, tr. Đây chính là khái niệm về chủ nghĩa thực dân nằm ngay trong lời tựa của cuốn sách chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam-thực chất và huyền thoại của tác giả Nguyễn Văn Trung.
15 “Trong cách nói gần đây hơn, “colonialism” đã mở rộng nội dung để chỉ “bất cứ điều kiện bị lệ thuộc nào về kinh tế hay chính trị,” dù sự lệ thuộc đó có dẫn đến sự di dời của dân bản địa hay không. Nghĩa xấu của từ này đã khiến những nhà phê bình hiện đại chỉ trích sự thống trị của nước ngoài (của Phương Tây), thích dùng từ colonialism (chủ nghĩa thực dân) hơn là thuật ngữ imperialism (chủ nghĩa đế quốc). Colonialism nghe xấu hơn” [4, tr. Có ý kiến cho rằng “Sự khác biệt quan trọng giữa chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc dường như là sự hiện diện hay không của một số lượng đáng kể những người định cư vĩnh viễn ở thuộc địa từ chính quyền thực dân” [38, tr.
Người ta thường cho rằng chủ nghĩa đế quốc là một cái gì đó do phương Tây sáng tạo ra như một độc quyền của mình để đổ lên đầu các dân tộc không phải người châu Âu. Trái ngược với những quan điểm đó, các học giả phương Tây phủ nhận điều đó và cho rằng chủ nghĩa thực dân diễn ra vòng quanh trái đất. Ở phương đông, “người Trung Hoa đã tràn xuống phía nam, khuất phục và nuốt chửng nhiều dân tộc không phải người Hán. Người Nhật Bản đã chinh phục những hòn đảo từ tay người Ainu.
Người Miến Điện đã di cư từ gốc gác của họ ở Mông Cổ và lấy tên của mình đặt cho một dải đất ở xa dưới phía nam, đồng hóa phần lớn các thổ dân. Người Ảrập đã bung ra từ hoang mạc, tràn qua miền bắc Châu Phi, cải đạo đa số thần dân của họ thành những tín đồ Hồi giáo. Họ tạo nên những quốc gia Hồi giáo, và ngôn ngữ của họ trở thành tiêu chí định nghĩa chung của những nhân dân đa dạng này” [4, tr. Như vậy, chủ nghĩa thực dân là hành động xâm chiếm, mở rộng lãnh thổ của một quốc gia dưới sự chỉ đạo của chính phủ thành những chính sách, đường lối rõ ràng, cụ thể.
Và nếu hiểu rằng chủ nghĩa thực dân là chỉ để ám chỉ các nước Phương Tây thì chưa toàn diện.