Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Các khái niệm Sinh kế: Theo Chambers và Conway (1992), sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó, phục hồi hay vượt qua được các cú sốc, căng thẳng, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản ở cả hiện tại và tương lai mà không làm hao mòn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Dân tộc thiểu số: Là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ một nước (Chính phủ, 2011).
Theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2009, dân tộc Mông chiếm 1,24% tổng dân số cả nước. Trong khi dân tộc Kinh chiếm hơn 80% tổng dân số cả nước. Đặc điểm của người dân tộc Mông được trình bày trong phụ lục 1. Định canh định cư: Là phương thức cố định địa bàn sản xuất và cư trú.
Có hai hình thức ĐCĐC là xen ghép và tập trung. Hình thức tập trung là việc tổ chức ĐCĐC cho các hộ dân về sinh sống tại các vùng ĐCĐC mới, phù hợp với quy hoạch bố trí, sắp xếp dân cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hình thức xen ghép là việc tổ chức ĐCĐC cho các hộ dân về sinh sống xen ghép với các hộ dân sở tại ở các thôn, bản đã có (UBDT, 2007). Trong khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ nghiên cứu về hình thức ĐCĐC tập trung.
Vùng định canh định cư: Nơi tập trung dân cư trong một phạm vi lãnh thổ nhất định nhằm ổn định sản xuất và đời sống của người dân (Viện từ điển học và bách khoa toàn thư Việt Nam, 2013).2 Khung sinh kế bền vững của DFID Theo DFID (1999), để hiểu rõ về sinh kế của người dân cần phải phân tích 5 vấn đề sau: - Các nguồn vốn sinh kế bao gồm: nguồn vốn con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, và xã hội. Trong đó, nguồn vốn con người gồm: các kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động, sức khỏe và thể lực của các thành viên trong hộ gia đình (HGĐ) để theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế. Nguồn vốn tự nhiên là các nguồn lực tự nhiên có ích cho hoạt động sinh kế của HGĐ mà các hộ có thể sử dụng để phục vụ cuộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nguồn vốn tài chính là các nguồn lực tài chính mà HGĐ sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế.
Có hai nguồn chính là nguồn sẵn có và nguồn vốn thường xuyên. Ngoài ra, cần kể đến các nguồn vốn vay từ các kênh tín dụng chính thức và phi chính thức. Nguồn vốn vật chất gồm có nguồn vốn gắn với cộng đồng (hệ thống cơ sở hạ tầng) và gắn với HGĐ (tài sản sinh hoạt, tài sản phục vụ sản xuất). Nguồn vốn xã hội được thể hiện ở các mạng lưới quan hệ, sự kết nối của HGĐ với xã hội.
- Bối cảnh dễ bị tổn thương là các yếu tố đến từ môi trường bên ngoài tác động vào cuộc sống của người dân mà họ bị hạn chế hoặc không thể kiểm soát được. Đó là những xu hướng thay đổi về nguồn lực, công nghệ…; các cú sốc về sức khỏe, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh…; và cả những vấn đề mang tính mùa vụ như giá cả nông sản, cơ hội nghề nghiệp… - Các thể chế, chính sách của các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị, tổ chức thuộc khu vực tư nhân, được cụ thể hóa bằng các luật, chính sách, và thể chế. - Chiến lược sinh kế được hiểu là các lựa chọn và các hoạt động của HGĐ nhằm đạt được các mục tiêu sinh kế. Bao gồm: các hoạt động sản xuất, chiến lược đầu tư, các lựa chọn tái đầu tư… - Kết quả sinh kế là thành tựu mà HGĐ đạt được khi họ sử dụng các nguồn vốn sinh kế để thực hiện các chiến lược sinh kế.
Đó có thể là thu nhập được nhiều hơn, giảm thiểu các tổn thương từ các cú sốc, đảm bảo an ninh lương thực, v.v… Sơ đồ khung SLF của DFID và mối quan hệ giữa các cấu phần trong khung được trình bày trong phụ lục 2 và 3.3 Các nghiên cứu liên quan Chính sách ĐCĐC cho đồng bào DTTS đã được thực hiện ở Việt Nam từ những năm 1970. Nhưng cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn đề sinh kế cho đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc khi họ chuyển đến sống tại các vùng ĐCĐC. Chỉ có những đề tài nghiên cứu về sinh kế cho đồng bào DTTS bản địa (Pa Kô & Vân kiều, Ê Đê…), sinh kế cho các HGĐ sau tái định cư. Vì vậy, tác giả tìm hiểu các nghiên cứu liên quan theo ba nhóm đề tài là: sinh kế, DTTS và tái định cư.
Nghiên cứu về sinh kế của dân tộc Ê Đê, Nguyễn Thị Minh Phương (2012) đã áp dụng khung SLF của DFID để tìm hiểu thông tin về thực trạng sinh kế của các hộ dân thông qua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hình thức phỏng vấn nhóm và phỏng vấn chuyên sâu. Sau khi phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả, so sánh giữa 3 nhóm hộ (giàu, khá, và nghèo), tác giả nhận định thách thức lớn nhất đối với các nông hộ là vốn con người. Tiếp đến là thách thức về vốn tự nhiên và vốn tài chính. Đó là do khả năng nắm bắt, vận dụng các kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nuôi của người dân còn yếu; Diện tích đất sản xuất ngày càng thiếu so với quy mô dân số ngày càng tăng, và độ màu mỡ của đất giảm do quá trình canh tác lâu dài; Khả năng tiếp cận với các nguồn vốn vay của họ cũng bị hạn chế.
Đề tài “Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững” của Phạm Bảo Dương (2009) đã xác định các yếu tố thúc đẩy và cản trở các hộ nghèo (trong đó có các hộ là DTTS) theo từng nhóm nguồn vốn sinh kế trong khung SLF của DFID. Các yếu tố thúc đẩy bao gồm: lực lượng lao động trẻ, đông; quỹ đất có thể khai hoang còn nhiều; được tiếp cận với nhiều nguồn vốn, được vay vốn và sử dụng vốn vay hiệu quả; được Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT) thiết yếu. Các yếu tố cản trở bao gồm: trình độ văn hóa, chuyên môn thấp; khoảng cách địa lý từ nhà đến các nơi cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục lớn; CSHT kém; tập quán canh tác lạc hậu; chất lượng và địa thế đất xấu; sự hòa nhập của người dân với cộng đồng xung quanh. Nghiên cứu về “Nghèo của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Hiện trạng và thách thức ở các xã thuộc chương trình 135 giai đoạn II, 2006-2007” của Phạm Thái Hưng, Lê Đặng Trung & Nguyễn Việt Cường (2011) đã chỉ ra rằng người nghèo là người DTTS chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng dân số nghèo.
Sinh kế của các hộ DTTS chủ yếu dựa vào nông nghiệp dưới hình thức tự cung tự cấp, và thường không sản xuất các loại cây hoa màu, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Do đó, đất đai được xem là tài sản vật chất quan trọng nhất đối với họ. Khả năng nói thạo tiếng phổ thông (sau đây gọi là tiếng Kinh) mở ra cơ hội cho các hộ DTTS trong việc nâng cao trình độ học vấn, tiếp cận thông tin thị trường, và sử dụng các dịch vụ công như y tế, giáo dục, v.v… Đề tài “Thực trạng đời sống kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư: Vấn đề và giải pháp” của Lê Văn Thành và cộng sự (2008) được tiến hành ở TP Hồ Chí Minh với đối tượng nghiên cứu là các HGĐ phải di dời chỗ ở theo chương trình tái định cư của thành phố. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi các HGĐ phải di dời đến chỗ ở mới họ sẽ phải đối mặt với những thay đổi về việc làm, thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, các điều kiện sinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hoạt, và các quan hệ xã hội.
Và sự giúp đỡ từ phía chính quyền địa phương là rất quan trọng trong việc giúp người dân thích nghi, hòa nhập với cuộc sống mới. Kinh nghiệm rút ra từ các đề tài nghiên cứu trên là: 1. Nên sử dụng hình thức phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu HGĐ để tìm hiểu thực trạng sinh kế của các hộ người Mông. Đồng thời, sử dụng kết hợp với phương pháp quan sát thực địa và phỏng vấn bán cấu trúc để so sánh, đối chiếu, bổ sung các số liệu và thông tin được thu thập từ hai phương pháp trước.
Trong nghiên cứu về sinh kế sẽ có nhiều chỉ báo không định lượng được nên tác giả sẽ sử dụng chủ yếu phương pháp định tính kết hợp với thống kê mô tả. Để phân tích được thực trạng sinh kế của các hộ, tác giả sẽ thu thập, và phân tích thông tin theo hệ thống chỉ báo về các nguồn vốn sinh kế của các HGĐ như sau: - Vốn con người: số lượng lao động, tuổi thọ, trình độ học vấn, sức khỏe, nghề nghiệp, kỹ thuật sản xuất, khả năng sử dụng tiếng Kinh. - Vốn tự nhiên: diện tích đất ruộng, đất nương, đất rừng, địa thế và chất lượng đất, khả năng thâm canh tăng vụ, tình trạng nước tưới. - Vốn tài chính: tiền mặt, tiền tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng, tiền gửi từ người thân, lương, tiền làm thuê, các gia súc, gia cầm, nông sản có thể bán được, các khoản vốn vay.
- Vốn vật chất: 1. Hệ thống CSHT kỹ thuật gồm: đường giao thông nội thôn, liên thôn, liên xã, điện lưới, nước sạch, nước tưới, truyền thanh, truyền hình; 2. Hệ thống CSHT xã hội gồm: trường học, trạm y tế, chợ, điểm văn hóa; 3. Các công cụ, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt, diện tích nhà ở, kiểu nhà, nhà vệ sinh của HGĐ.
- Vốn xã hội: mối quan hệ với bà con hàng xóm, họ hàng, người thân; sự tham gia của thành viên HGĐ vào các tổ chức, mạng lưới xã hội.