ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi gia cầm là một ngành chăn nuôi truyền thống, tạo nhiều công ăn việc làm cho người nông dân. Trong những năm qua, ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã chuyển dịch theo hướng tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao thịt gia cầm của thị trường. Sự phát triển của ngành chăn nuôi gà công nghiệp, đặc biệt gà lông màu: gà Ri, Mía, gà lai (Mía x ISA JA57).ở quy mô nông hộ đòi hỏi một loại bột thức ăn xanh, loại thức ăn giàu protein, -Caroten (tiền vitamin A), xantophyll (sắc tố nhuộm màu lòng đỏ trứng và da gà), vitamin E, K, vitamin nhóm B) để thay thế chất nhuộm màu vô cơ, gây hại cho sức khỏe của người tiêu dùng là một yêu cầu cấp thiết. Nhiều công trình nghiên cứu sản xuất bột thức ăn xanh từ rau, cây cỏ như: bột cỏ alfalfa (Medicago sativa), bột rau muống, bèo hoa dâu…Tuy nhiên, khi trồng cây thức ăn xanh với chế độ canh tác sử dụng các nguồn nước tưới chưa đảm bảo, phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật.với quỹ đất còn hạn hẹp chưa đảm bảo cung cấp thường xuyên bột thức ăn xanh cho sản xuất, nhiều công ty đã phải nhập khẩu bột cỏ Alfalfa từ Mỹ, Canada.
nhưng giá thành quá cao. Để tìm các giải pháp để cung cấp thường xuyên một lượng thức ăn xanh cho chăn nuôi, nhiều công trình nghiên cứu sản xuất và sử dụng cỏ mầm từ ngô, đại mạch, lúa mỳ.trong nhà lưới. Kỹ thuật sản xuất cỏ mầm bắt nguồn từ kỹ thuật sản xuất rau mầm: giá đỗ, cải mầm.làm thực phẩm được các nước châu Á sử dụng từ lâu. Sau đó, các nhà chăn nuôi ở Mỹ, Israel, Úc, Canada, Nam Phi.nghiên cứu sản xuất và sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Sibbald và CS (1962) sử dụng lúa mì mầm làm thức ăn cho gà; Bull and Peterson (1969) sử dụng lúa mì mầm làm thức ăn cho lợn và gà; Peer and Leeson (1985) sử dụng ngô mầm và đại mạch mầm làm thức ăn cho gà và lợn. Trong thời gian gần đây, sản xuất và sử dụng cỏ mầm làm thức ăn cho gà, lợn, bò sữa,.ở quy mô công nghiệp được các nhà dinh dưỡng quan tâm. Ở Việt Nam, công nghệ sản xuất hoa, rau sạch trong nhà lưới được phát triển. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sản xuất cỏ mầm làm thức ăn chăn nuôi vẫn chưa được chú trọng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế chúng tôi tiến hành đề tài: "Sản xuất và sử dụng thóc mầm và ngô mầm làm thức ăn cho gà thịt thương phẩm". MỤC ĐÍCH - Thăm dò phương pháp sản xuất thóc mầm, ngô mầm. - Xác định thành phần hóa học của thóc mầm, ngô mầm. - Xác định ảnh hưởng của thóc mầm, ngô mầm trong thức ăn hỗn hợp đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà thịt thương phẩm.
- Đánh giá hiệu quả của bổ sung thóc mầm, ngô mầm trong khẩu phần ăn cho gà thịt thương phẩm. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Tìm được nguồn nguyên liệu mới làm thức ăn trong chăn nuôi. - Kết quả của đề tài làm tài liệu tham khảo có giá trị cho những người chăn nuôi gia cầm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
BỘT THỨC ĂN XANH Thức ăn xanh (thức ăn thô xanh) rất đa dạng và phong phú, bao gồm thân lá của một số cây, cỏ trồng hoặc mọc tự nhiên trên cạn hoặc dưới nước và là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm nhất là ở các nông hộ. Loại thức ăn này chứa hầu hết các chất dinh dưỡng mà vật nuôi cần như protein, các vitamin, khoáng đa lượng, vi lượng thiết yếu và các chất có hoạt tính sinh học cao. Thức ăn xanh có thể chia thành 2 nhóm chính gồm: Nhóm cây hòa thảo như cỏ ở bãi chăn, cỏ trồng, thân lá cây ngô,. Nhóm cây họ đậu như cỏ Stylo, cỏ Alfalfa, cây điền thanh, cây keo dậu.
Bột thức ăn xanh được sản xuất từ các loại thức ăn thô xanh. Sau khi thu hoạch, thức ăn xanh được chế biến bằng phương pháp phơi hoặc sấy khô, sau đó được nghiền thành bột và được ép viên hoặc đóng bánh. Bột thức ăn xanh thường được sản xuất từ rau muống, rau lang, lá sắn, bèo hoa dâu, lá dâu tằm, cây ngô non, lá keo dậu, lá anh đào, lá điền thanh, các loại cỏ. Thành phần dinh dưỡng của một số loại bột thức ăn xanh Bột thức ăn xanh được xem như loại thức ăn tiềm năng bổ sung protein cho vật nuôi, vì chúng có chứa hàm lượng protein thô cao, các axit amin thiết yếu, khoáng chất và vitamin cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi (Norton and Poppi, 1995).
Tùy thuộc vào giống, loài khác nhau mà thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bột thức ăn xanh cũng khác nhau. Theo Sazon (1988), bột lá cây điền thanh (Sesbania rostrata) có 29,7% protein thô; 7,6% lipit thô; 15,3% xơ thô; 27,6% dẫn xuất không đạm; 7,8% khoáng tổng số; 0,78% Ca; 0,23% P; 467 ppm sắc tố vàng. Bột bèo hoa dâu có chứa 26,7% protein thô; 4,4% lipit thô; 10,6% xơ thô; 1,2% Ca; 0,6% P (Tôn Thất Sơn, 1994). Hàm lượng dinh dưỡng của bột lá colis (Pisonia alba) có chứa 18,5% protein thô; 15,8% xơ thô; 2,6% lipit thô (Rigon et al.
Từ Quang Hiển và cs. (2008) cho biết thành phần hóa học bột lá của 2 giống họ đậu được trồng tại Thái Nguyên như sau: bột lá D.rensoni chứa 15,6% protein thô; 1,7% lipit thô và trong bột lá đậu công (F.Congesta) có chứa 19,6% protein thô; 3,4% lipit thô. Bột lá đậu ván tính theo chất khô (CK) có chứa 23,40% protein thô; 1,90% lipit thô; 8,34% chất xơ thô; 11,60% khoáng tổng số và 46,70% dẫn xuất không đạm (Odunsi, 2003). Những giá trị này nhìn chung cũng tương tự với kết quả 3 c phân tích của hầu hết các loại bột lá cây họ đậu khác như: bột lá đậu triều (Udedibie and Igwe, 1989); bột lá anh đào giả - Gliricidia sepium (Odunsi, 2002); (Osei et al., 1990); (Kagya-Agyemang et al., 2006) và bột lá đậu đũa - Vigna unguiculata (Akinlade et al.
Bột lá đậu leo rất giàu protein thô (22,45%), phốt pho (0,53%), canxi (0,80%), kali (0,72%) và magie (0,30%) (Nworgu and Fasogbon, 2007). Tuy nhiên, hàm lượng protein thô trong bột lá đậu leo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau nên các kết quả phân tích cũng rất khác nhau. Trong nghiên cứu của Nworgu et al. Theo Trần Tố (2006) trong bột thân lá đậu nho nhe có chứa hàm lượng protein thô là 12,69%; lipit thô là 2,09%; khoáng tổng số là 11,22%; xơ thô là 43,52% và đầy đủ các axit amin.
Hàm lượng dinh dưỡng của thân, lá đậu nho nhe khá cao, đặc biệt là hàm lượng protein thô khoảng 10 - 25% (Nguyễn Thị Tú và cs. Cây keo dậu được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi. Hàm lượng protein thô của keo dậu biến động theo loài và giống. Gupta et al.
(1986) khi nghiên cứu trên 9 loài keo dậu cho thấy hàm lượng chất khô (CK) dao động từ 15,56% đến 22,34%. Keo dậu trồng tại Việt Nam có hàm lượng protein thô khá cao. Theo Lê Hòa Bình và cs. (1993) hàm lượng protein thô trong bột keo dậu đạt 25% CK.
Các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà (1996) cho biết, hàm lượng protein thô dao động từ 26,40% đến 26,70% (tính theo hàm lượng CK). Kết quả nghiên cứu của Từ Quang Hiển và cs. (2008) cho biết trong lá tươi và bột lá keo dậu trồng tại Thái Nguyên có chứa hàm lượng tương ứng là 6,3% và 14,8% protein thô; 0,6% và 2,7% lipit. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy cây keo dậu tương đối giàu protein thô (22 - 34%), các axit amin thiết yếu, khoáng, carotenoit và vitamin (Atawodi et al.
Trong những năm gần đây, cỏ Stylosanthes cũng được trồng phổ biến tại Lào và Thái Lan. Cỏ Stylo CIAT 184 trồng tại Thái Lan có chứa 17,1% protein thô; 39,1% xơ trung tính và 56,8% xơ axit (Kiyothong et al. Chứa 14 - 18% protein thô tính theo CK (Satjipanon et al. Một số kết quả phân tích cho thấy cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày trồng tại Lào có chứa 20,2% CK; tính theo CK có 19% protein thô; 64,2% xơ trung tính; 5,5% khoáng (Phengsanvanh, 2003b).
Theo Chanphone Keoboualapheth et al. (2003) Stylo 4 c CIAT 184 có 22,3% CK; 19,3% protein thô; 30% xơ thô; 5,1% khoáng; 0,2% canxi và 0,4% photpho. Ở Việt Nam, thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylosanthes cũng đã được các nhà khoa học công bố. Theo Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn (2009), cây đậu Stylo CIAT 184 có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein thô đạt 16,86%.
Tỷ lệ sử dụng của cỏ Stylosanthes cũng tương đối cao (87,6%). Trên cả ba vùng nghiên cứu (Thái Nguyên, Lâm Đồng, Ba Vì) hàm lượng protein thô của cỏ Stylo Plus đạt bình quân 17% (Nguyễn Thị Mùi và cs. Các loại bột lá thường có giá trị dinh dưỡng cao. Bột lá không những giàu protein, khoáng và các axit amin thiết yếu mà còn có hàm lượng xanthophyll tương đối cao.
Trong bột lá Leucaena chứa hàm lượng xanthophyll là 318mg/kg CK (Kanto, 1986); 235mg/kg CK (Khanampun, 1991). Scott et al. (1982) cho biết, hàm lượng xanthophyll từ 400 đến 500mg/kg CK trong bột cỏ Alfalfa. Bột lá của các cây họ đậu khác cũng là nguồn cung cấp carotene và xanthophyll cho gia súc, gia cầm.
Hàm lượng carotene và xanthophyll trong bột lá phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm thu hoạch, thời gian và phương pháp làm khô. Vai trò của bột thức ăn xanh trong chăn nuôi gia cầm Bột lá thực vật đã được ghi nhận như là nguồn protein rẻ và phong phú nhất bởi khả năng tổng hợp các axit amin từ các nguyên liệu ban đầu không bị hạn chế và có sẵn trong tự nhiên như nước, CO 2, N2 khí quyển (ở các cây họ đậu) (Fasuyi and Alelor, 2005b); (Fasuyi, 2006); (Fasuyi, 2007). Chăn nuôi gia cầm đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu protein ở các nước đang phát triển, nơi sản lượng thịt vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân (Onyiomonyi et al. Bởi vì năng suất của đàn gia cầm trong vùng nhiệt đới bị hạn chế do sự khan hiếm và giá cao của các nguồn protein và nguồn năng lượng thông thường.
Đặc biệt là nguồn protein hạn chế trong sản xuất thức ăn gia cầm ở vùng nhiệt đới. Do đó, cần phải tìm các nguồn protein có sẵn để thay thế sử dụng như thức ăn bổ sung cho gia cầm.