CHƯƠNG 1: BOI CANH LICH SỬ VÀ TIEN DE LÝ LUẬN CHO SỰ HINH THANH QUAN DIEM VE TUONG LAI CAC NEN VAN MINH CUA S.HUNTINGTON TRONG TÁC PHAM “SỰ VA CHAM CUA CAC NEN VAN MINH” 1. Một số đặc điểm kinh tế, chính tri, xã hội giai đoạn cuối thé kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Cuối thé kỷ XX — đầu thế kỷ XXI là giai đoạn thế giới đầy biến động với hàng loạt các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội to lớn. Khái quát lại, có thé thấy các đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, sự sup đồ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã tác động nghiêm trọng đến cục diện chính trị thế giới. Sự tan rã của Liên Xô đã tạo ra cho Mỹ một lợi thế tạm thời.
Là cực duy nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cô vị trí siêu cường, mưu đồ giữ vai trò chi phối bá chủ thé giới. Chính với ý đồ đó, sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Tổng thống Mỹ lúc bay giờ là G. Bu-sơ (cha) đã vội vàng tuyên bố về “một trật tự thé giới mới”, hàm ý nói trật tự đó là do Mỹ lãnh đạo và Liên Hợp Quốc là công cụ. Sa-mu-en R.
Bec-gơ, một chiến lược gia của Mỹ cho rằng, sự lãnh đạo của nước Mỹ đối với thế giới vào lúc này là sự cần thiết và cấp bách. Văn bản chỉ đạo chính sách quốc phòng 1992-1994 cũng vạch rõ nhiệm vụ của Mỹ là “phải ngăn chặn” mọi đối thủ chiếm giữ các vùng có nguồn lực giúp cho họ trở thành đại cường quốc, phải “làm nản lòng” các nước công nghiệp phát triển thách thức địa vị lãnh đạo của Mỹ. Các chuyên gia nghiên cứu chiến lược thuộc Hội đồng Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ cho rằng, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất có “sứ mệnh” như một đầu tàu của quá trình “mở rộng dân chủ” trên phạm vi toàn thế giới [33]. Tuy nhiên, chỉ mười năm sau chiến tranh 11 lạnh, chúng ta có thể thấy ý đồ của Mỹ trong việc thiết lập một trật tự theo kiêu Pax Americana đã không thảnh công.
Mặc dù là siêu cường duy nhất nhưng Mỹ chưa đủ mạnh để giải quyết các van đề trong nội bộ nước Mỹ cũng như các vấn đề toàn cầu mà không có sự tham gia của cộng đồng quốc tế, bởi các nước lớn và các liên minh khu vực đóng vai trò hết sức quan trọng. Đây là những đối thủ tiềm tàng đáng gờm, bởi thế, muốn đạt được địa vị duy nhất lãnh đạo thế giới, Mỹ phải làm suy yếu các đối thủ này. Tuy nhiên sự thật đã cho thấy, các đối thủ de doa địa vị “lãnh đạo” thé giới của Mỹ không những không bị suy yêu mà càng ngay càng trỗi dậy mạnh mẽ. Và cuối cùng, tuy van không từ bỏ ý đồ lãnh đạo thế giới, Mỹ đã phải công nhận các cường quốc khác, đặc biệt là Nga và Trung Quốc là đối tác hoặc bạn bè chiến lược.
Như vay, có thể thấy sau chiến tranh lạnh, một trật tự quốc tế mới theo hướng đa cực bước đầu đã hình thành, số cường quốc có vai trò quyết định trong trật tự đó ngày càng đông hơn, trong lúc vai trò siêu cường độc nhất của Mỹ ngày càng bi thu hep. Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học — công nghệ phát triển như vũ bão đã và đang làm thay đổi tư duy và nhận thức trong đời sống sinh hoạt quốc tế. Thế giới là một thé thống nhất và đa dang, tùy thuộc lẫn nhau ngày cảng tăng, nhu cầu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trở nên cấp bách. Xu hướng lành mạnh hóa, dân chủ hóa trong sinh hoạt quốc tế ngày càng được rõ nét.
Những vấn đề kinh tế, chính trị xã hội mang tính toàn cầu như: nguy cơ chiến tranh hạt nhân hủy diệt, vấn đề dân số và môi trường sinh thái. đang là những vấn đề cấp bách và nóng bỏng đe dọa sự tồn tại của cộng đồng thế giới và nền văn minh nhân loại. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trên tinh thần thực sự nhân đạo vi sự sống còn của con người. Sự xích lại gần nhau, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các quôc gia dân tộc băt nguôn chính từ nhu câu khách quan này.
12 Đặc biệt, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học — công nghệ, mà trước tiên là cuộc cách mạng tin học đã xuất hiện xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa. Toản cầu hóa là sự thể hiện thế giới mở, khắc phục dần tình trạng khép kín, biệt lập giữa các quốc gia dân tộc. Trong tác phẩm Thể giới phẳng, Thomas Friedman đã nghiên cứu hiện tượng toàn cầu hoá một cách rất hệ thống. Theo ông, trong xu thế toàn cầu hoá, mối quan hệ xã hội giữa người với người được gắn kết một cách dé dàng va chặt chẽ hơn bao giờ hết.
Con người tương tác với nhau không phụ thuộc vào các cách thức và phương tiện truyền thống như mặt đối mặt hay sử dụng thư từ, điện thoại; mà họ được kết nỗi với nhau bởi một mạng Internet toàn cầu xuyên biên giới dựa trên việc sử dụng máy tinh cá nhân và máy tính dé bàn. Chính điều này đã khiến cho mối quan hệ giữa người với người được mở rộng hơn bao giờ hết trên phạm vi toàn thế giới, nó cho phép con người “làm phẳng” rất nhiều trở ngại, khó khăn cả về mặt không gian địa lý lẫn về mặt cách thức giao tiếp. Từ đó, con người giải quyết được nhiều công việc phức tạp hơn, bao gồm cả vấn đề lao động, thương mại quốc tế. Ông cũng cho rằng, trong bối cảnh toản cầu hoá, cơ hội của mỗi cá nhân được phân chia đồng đều, bình đăng hơn.sân chơi đang trở nên công băng.
Ý ông muốn nói là các nước như An Độ hiện có cơ hội hơn bao giờ hết trong cạnh tranh trên thị trường lao động tri thức toàn cầu — và rằng Mỹ cần chuẩn bị tốt cho quá trình cạnh tranh này. Vị thé của Mỹ sẽ bị thách thức nhưng, ông nhấn mạnh, thách thức là tốt cho nước Mỹ bởi vì chúng ta sẽ phát huy tối đa khi bị thách thức” [29]. Đồng thời với quá trình đó là sự vận động, tập hợp lực lượng mới trên quy mô toàn cầu và khu vực diễn ra phức tạp. Đó là quá trình làm thay đổi vị trí, quyền lực của từng quốc gia, và vi trí địa — chính trị của từng khu vực va toan cầu.
Cuộc cách mạng thông tin, quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đã tác động sâu sắc, toàn diện đến đời sông quan hệ quôc tê, đên chính sách của các quôc gia dân tộc, đã chi phôi 13 mạnh mẽ đến trật tự mới của từng khu vực và thế giới, làm cho con người có nhu cầu khăng định và bảo vệ bản sắc riêng của mình, cũng như bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Đây cũng là một trong những lý do dẫn tới sự xuất hiện tư tưởng “xung đột văn minh”. Thứ ba, vai trò, ảnh hưởng và sức mạnh của châu Á-Thái Bình Dương ngày càng tăng lên; cán cân quyền lực chuyền dan sang châu A và có dự kiến cho rang thời điểm đó là năm 2050 khi GDP của Trung Quốc bang Mỹ. Vị thé của các nước vừa, đặc biệt là Úc, Canada và các nước ASEAN trong việc đây mạnh hợp tác kinh tế cũng như an ninh ở khu vực Chau A — Thái Bình Dương ngày cảng được nâng cao.
Trước sự sụp đồ của Liên Xô cũ, Mỹ trở thành siêu cường toàn điện duy nhất. Tuy nhiên, sự nổi lên của Trung Quốc - một siêu cường trong thé kỷ XXI, sức mạnh kinh tế đang được dần chuyền thành sức mạnh chính trị của Nhật và vai trò tuy đã suy yếu của Nga so với Liên Xô cũ nhưng vẫn giữ vị trí đặc biệt ở châu Âu đã không cho phép Mỹ giữ một vị trí độc tôn trong nền chính tri quốc tế. Mặt khác, với quá trình toàn cầu hoá và hệ quả trực tiếp của nó là sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế cũng như những vấn đề mang tính chất toàn cầu làm cho bất cứ một nước nào dù mạnh đến đâu cũng trở nên bất lực trước những thách thức lớn lao đòi hỏi sự hợp tác của tất cả các nước, từ lớn đến vừa và nhỏ. Xu thé khu vực hoá, đa phương hoá, dan chủ hoá trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh đã thúc đây vai trò của các nước vừa và nhỏ, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực Châu A — Thái Bình Dương.
Đã qua rồi thời kỳ các nước lớn có thé đơn phương áp đặt ý chí và luật lệ của mình lên các quốc gia khác, bởi khi ngày càng nhiều vấn đề kinh tế, an ninh và chính trị được đưa ra bàn bạc ở các diễn đàn đa phương, các nước vừa và nhỏ đều có quyền tham gia và có tiếng nói, du ít hay nhiều, trong các van đề liên quan đến vận mệnh của mình. Chính ở đây, trong các diễn đàn đa phương, các quốc 14 gia vừa và nhỏ, đặc biệt là khi cùng nói chung một tiếng nói, có thể có ảnh hưởng không thé bỏ qua đối với các van đề khu vực cũng như quốc tế. Nếu như sự dính líu và xung đột của các nước lớn là nhân tố quyết định trật tự khu vực Đông Nam Á thời kỳ chiến tranh lạnh và ASEAN đã không có cơ hội để có tiếng nói độc lập, thì giờ đây thực tế là ASEAN đã trở thành một thực thê chính tri có khả năng tham gia tạo dựng một trật tự khu vực mới. ASEAN đã có vai trò đầu tàu trong các Diễn đàn PMC, ARF va ASEM.
Các nước lớn, cả Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Nga đều tìm kiếm sự hợp tác của ASEAN. Tầm quan trọng về địa chính trị cũng như địa kinh tế của một ASEAN mở rộng trong các van đề khu vực cảng được nâng cao. Vì vậy, cùng với những nước tầm trung như Úc và Canada, ASEAN có thể tiếp tục phát huy vai trò và tiếng nói của mình trong các Diễn dan an ninh và kinh tế ở khu vực để tham gia tích cực vào các vấn đề khu vực nhằm phục vụ lợi ích không chỉ các nước lớn mà còn phục vụ lợi ích của các nước vừa và nhỏ. Chúng ta có thể nhận thấy vai trò tích cực của Úc, Canada và đặc biệt là ASEAN đã trở thành một nét đặc trưng trong bức tranh toàn cảnh ở khu vực Châu A - Thái Bình Dương từ đầu những năm 90 trở lại đây.