Ngữ văn 12 nâng cao tập 2 - Tô Hoài Vợ chồng A Phủ và văn học kháng chiến

Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập hai bản nâng cao với 226 trang nội dung chi tiết, bám sát chương trình GDPT 2018. Tài liệu ôn tập và nâng cao kiến thức hiệu quả

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách giáo khoa

2014

226
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao là một trong những tài liệu quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. Cuốn sách này được biên soạn nhằm giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc, viết và phân tích văn học. Với 226 trang, sách cung cấp kiến thức và bài tập đa dạng, phù hợp với yêu cầu của chương trình giáo dục.

1.1. Giới thiệu chung

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao được xuất bản bởi Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Cuốn sách này là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, giúp học sinh phát triển kỹ năng ngôn ngữ và văn học.

1.2. Cấu trúc và nội dung

Cuốn sách gồm nhiều bài học, mỗi bài học tập trung vào một chủ đề văn học cụ thể. Các bài học được thiết kế để giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc, viết và phân tích văn học.

II. Phân tích và vấn đề trong Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao đặt ra nhiều vấn đề cần phân tích và thảo luận. Một trong những vấn đề quan trọng là việc phát triển kỹ năng đọc và viết của học sinh. Cuốn sách cung cấp nhiều bài tập và hoạt động để giúp học sinh phát triển kỹ năng này.

2.1. Phát triển kỹ năng đọc

Cuốn sách cung cấp nhiều bài đọc đa dạng, giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc và hiểu văn bản.

2.2. Phát triển kỹ năng viết

Cuốn sách cũng cung cấp nhiều bài tập viết, giúp học sinh phát triển kỹ năng viết và thể hiện ý tưởng.

III. Giải pháp và phương pháp trong Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao

Để phát triển kỹ năng ngôn ngữ và văn học của học sinh, cuốn sách cung cấp nhiều giải pháp và phương pháp dạy học đa dạng. Một trong những giải pháp quan trọng là việc sử dụng các hoạt động dạy học tích cực.

3.1. Sử dụng hoạt động dạy học tích cực

Cuốn sách khuyến khích giáo viên sử dụng các hoạt động dạy học tích cực, giúp học sinh phát triển kỹ năng ngôn ngữ và văn học.

3.2. Phát huy tính sáng tạo của học sinh

Cuốn sách cũng khuyến khích học sinh phát huy tính sáng tạo, thể hiện ý tưởng và quan điểm của mình.

IV. Kết luận và ứng dụng Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập hai nâng cao là một tài liệu quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. Cuốn sách này cung cấp nhiều kiến thức và bài tập đa dạng, giúp học sinh phát triển kỹ năng ngôn ngữ và văn học.

4.1. Ứng dụng trong giáo dục

Cuốn sách có thể được ứng dụng trong giáo dục để phát triển kỹ năng ngôn ngữ và văn học của học sinh.

4.2. Hướng dẫn sử dụng

Giáo viên và học sinh cần sử dụng cuốn sách một cách linh hoạt, phù hợp với yêu cầu của chương trình giáo dục.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

DON NVA BO GIAO DUC VA BAO TAO GU VAN NANG CAO TAP HAI 12 ‹ NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM timdapan.com BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRẦN ĐÌNH SỬ (rồng Chủ biên) HỒNG DÂN - NGUYỄN ĐẶNG MẠNH - ĐỖ NGỌC THỐNG (đồng Chủ biên) LÊ HUY BẮC - NGUYÊN THỊ BÌNH - HOÀNG DŨNG - HÀ THỊ HOÀ LÊ QUANG HUNG - NGUYEN VAN LONG ~ Vv NANG CAO TAP HAI (Tdi ban lan thứ năm) NHA XUAT BAN GIAO DUC VIET NAM timdapan.com Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam — Bộ Giáo dục và Đào tạo 02-2014/CXB/21-1213/GD Ma s6 : NH212T4 timdapan.com VO CHONG A PHU (Trich) TO HOAI KET QUA CAN DAT ® Hiểu được giá trị nhân đạo của truyện thể hiện qua sự lên án tội ác của bọn thống trị và khẳng định sức sống ngoan cường, khát vọng tự do tiềm tàng ở người dân lao động vùng cao Tây Bắc. ® Nắm được nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, nghệ thuật tạo tình huống truyện, miêu tả sinh hoạt, phong tục và tâm lí nhân vật trong đoạn trích. TIỂU DẪN Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê gốc ở huyện Thanh Oai, nh Hà Đồng (nay là Hà Nội). Ông sinh năm 1920 ở quê ngoại - làng Nghĩa Đô, thuộc phủ Hoài Đức (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cau Giấy, Hà Nội). Tö Hoài chỉ được học hết bậc Tiểu học, rổi phải làm nhiều nghề để kiếm sống trước khi cẩm bút. Từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài đã viết nhiều, với hai mảng sáng tác chính : chuyện về loài vật và chuyện về những người dân nghèo, thợ thủ công ở vùng qué ven thành. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập tổ chức Văn hoá cứu quốc do Đảng Cộng sản thành lập. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Tô Hoài làm báo ở Việt Bắc rồi chuyển sang công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam. Sau Cách mang thang Tam, ông làm phóng viên báo Cứu quốc. Năm 1957, khi Hội Nhà văn Việt Nam được thành lập, ông làm Tổng thư kí, rồi Phó Tổng thư kí trong nhiều năm. Tô Hoài còn là Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội (1966 - 1998). Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dổi dào. Đến nay, qua hơn sáu mươi năm cầm bút, a timdapan.com ông đã cho ra đời trên 160 đầu sách. Tác phẩm của Tô Hoài đa dạng về thể loại : tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, hồi kí, tự truyện, kinh nghiệm sáng tác, truyện và kịch cho thiếu nhỉ, kịch bản phim,. Tö Hoài được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật năm 1996. Tác phẩm chính : Dế Mèn phiêu lưu kí (đồng thoại, 1941), O chuột (tập truyện về loài vật, 1942), Quô người (tiểu thuyết, 1942), Nhả nghẻo (tập truyện ngắn, 1944), Truyên Tây Bắc (tập truyện, 1953), Mưởi năm (tiểu thuyết, 1957), Miển Tây (tiểu thuyết, 1967), Người ven thảnh (tập truyện ngắn, 1972), Tự truyện (1978), Quê nhà (tiểu thuyết, 1980), Cát bựi chan ai (hổi kí, 1992), Chiểu chiểu (tự truyện, 1999), Ba người khác (tiểu thuyết, 2006),. Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam. Sáng tác của Tô Hoài thể hiện vốn hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là phong tục và sinh hoạt đời thường. Nghệ thuật văn xuôi của Tô Hoài có nhiều đặc sắc, nổi bật ở lối kể chuyện tự nhiên, sinh động, cách miêu tả giàu chất tạo hình, ngôn ngữ phong phú và đậm tính khẩu ngữ. Năm 1952, Tô Hoài đi với bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Trong chuyến đi dai tám thang, nhà văn đã sống với đồng bảo các dân tộc thiểu số từ khu căn cứ du kích trên núi cao đến các bản làng mới giải phóng. Chuyến đi đã giúp cho Tô Hoài hiểu biết sâu hơn về cuộc sống và con người miền núi, đã để lại cho nhả văn những kỉ niệm sâu sắc, tinh cảm thắm thiết với người và cảnh Tây Bắc. Truyên Tây Bắc - kết quà chuyến đi ấy - là một trong những tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của văn học thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm đã được trao Giải Nhất Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955. Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn đặc sắc hơn cả trong ba tác phẩm của tập Truyên Tây Bắc. Truyện có hai phần, viết về hai giai đoạn của cuộc đời Mị và A Phủ : giai đoạn ở Hồng Ngài, trong nhà thống li Pa Tra ; giai đoạn ở Phiểng Sa - hai vợ chồng gặp gỡ cách mạng rồi A Phủ trở thành du kích. Dưới đây chỉ trích phần đầu là phần thành công hơn của tác phẩm. * + * Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí ? Pá 'Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, đệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, (1) Thống lí : một chức trong hệ thống cai trị phong kiến ở vùng người Mèo (nay gọi là người Mông) ; thống lí cai quản một địa phương dưới cấp châu (huyện), tương tự như /h¿¿ ở vùng người Thái, chánh tổn g ở miễn xuôi.com cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta thường nói : nhà Pá Tra làm thống lí, ãn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái nhà Pá Tra : cô ấy là vợ A Sử, con trai thong If Pa Tra. Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí. Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị không có đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ. Cho tới năm ấy Mị đã lớn, Mị là con gái đầu lòng. Thống lí Pá Tra đến bảo bố Mị : — Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xoá hết nợ cho. Ông lão nghĩ nãm nào cũng phải trả một nương ngô cho người ta, thì tiếc ngô, nhưng cũng lại thương con quá. Ông chưa biết nói thế nào thì Mị bảo bố rằng : = Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu. Đến Tết năm ấy, Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao’, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái thì bố mẹ không thể ngủ được vì tiếng chó sùa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẫn cả chân vách đầu buồng Mị. Một đêm khuya, Mị nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hồ hẹn của người yêu. Mị hồi hộp lặng lẽ quo tay lên thì gập hai ngón tay lách vào khe gỗ, sờ một ngón thấy có đeo nhắn. Người yêu của Mị thường đeo nhẫn ngón tay ấy. Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dất Mị bước ra. Mị vừa bước ra, lập tức có mấy người choàng đến, nhét áo vào miệng Mị rồi bịt mắt, cõng Mị đi. Sáng hôm sau, Mị mới biết mình đang ngồi trong nhà thống lí Pá Tra. Họ nhốt Mị vào buồng. Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiên? cúng ma đương rập rờn nhảy múa. (1) Đánh pao : trò chơi của người Mông (giống trò chơi ném còn của người Thái, người Tày) ; khi chơi nam nữ thanh niên đứng hai bên bãi rồng, ném và bat quả pao bằng vải. (2) Xinh tiền (cũng gọi sênh triển) : một nhạc khí bằng hai thỏi gỗ cứng dùng để gõ, đính thêm cọc tiền đồng, thường dùng đệm nhịp trong dần nhạc bát âm.com Trong khi đó, A Sử đến nhà bố MỊ. A Sử nói : ~ Tôi đã cướp" được con gái bố làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi, bây giờ tôi đến trình cho bố biết. Tiền bạc để cưới thì bố tỏi bảo đã đưa cả cho bố rồi. Rồi A Sử về. Ông lão nhớ ngay câu nói của thống lí Pá Tra dạo trước : cho con gái về nhà thống lí Pá Tra thì được trừ nợ. Chao ôi ! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rồi ! Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Một hôm, Mị trốn về nhà, hai tròng mắt còn đỏ hoe. Trông thấy bố, Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở. Bố Mị cũng khóc, đoán biết lòng con gái : — Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à ? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lai bat tao trả nợ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi ! Mị chỉ bưng mặt khóc. Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng, Mị vẫn giấu trong áo. Thế là Mị không đành lòng chết. Mị chết thì bố Mi còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa. Mị đành trở lại nhà thống lí. Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng MỊị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ãn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc an cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại : Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giật đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bấp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đần bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ