phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro cho vay tại các NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng hạn chế rủi ro cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Gia Lai. Chƣơng 3: Giải pháp hạn chế rủi ro cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Gia Lai. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc.
Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính cp thit v 20 of 68. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Theo Markowitz (1952, pp. 77-79) “Rủi ro là một mệnh đề thể hiện sự không chắc chắn.
Trong hoạt động tài chính, biến thiên của kết quả hoạt động là một đại diện cho rủi ro và do đó nhà đầu tƣ nên cân nhắc giữa kết quả kỳ vọng - điều mong đợi và biến thiên của kết quả hay rủi ro - điều không mong đợi”. Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu chủ yếu, chiếm đến 70%- 80% lợi nhuận của NHTM. Tuy nhiên đây cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và khả năng thanh khoản của NHTM (World Bank, 2009). Vì vậy, việc nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế tối đa tổn thất và nâng cao chất lƣợng hoạt động kinh doanh của tổ chức này.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Theo Thomas P. 12): “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của NH. Scott Mac Donald (2009, pp.
541): “Một khi NH nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi KH sai hẹn – có nghĩa là KH không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc KH không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Trong nghiên cứu của Henie Van Greuning - Sonja B rajovic Bratanovic (1999, pp. 161): “Rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.
Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính cp thit v 21 of 68. 2 Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động NH”.
Bielecki và Marek Rutkowski (2004, pp. 1): “Rủi ro tín dụng là khả năng KH không thực hiện đầy đủ những cam kết/nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng”. Theo Điều 3, Thông tƣ số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 của Thống đốc NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh NH nƣớc ngoài do KH không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Nhƣ vậy, rủi ro tín dụng là sự tổn thất về tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ ngƣời đƣợc cấp tín dụng không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ đã đƣợc cam kết.
Hoạt động cho vay là nội dung chủ yếu trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM. Trên cơ sở đó, rủi ro cho vay mang đầy đủ đặc điểm của rủi ro tín dụng (Peter Rose, 2002). Do đó, theo tác giả, điều này cũng có nghĩa là rủi ro cho vay chính là sự tổn thất về tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ ngƣời đi vay không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ đã đƣợc cam kết.2 Đặc điểm rủi ro cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Rủi ro cho vay có tính tất yếu Về bản chất, NHTM cũng đơn giản chỉ là một tổ chức kinh tế họat động chủ yếu vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Trong quá trình họat động, các NHTM ngày nay đang phải chịu rất nhiều sức ép không chỉ đến từ các đối thủ cạnh tranh, ngƣời gửi tiền và KH vay vốn mà còn từ chính các cổ đông.
Áp lực lớn đẩy các NHTM dễ dàng mắc các sai lầm trong công tác quản trị mà đặc biệt là trong họat động cho vay. Ngoài ra, sự bất ổn trong nền kinh tế cũng khiến cho các NHTM khó có thể đánh giá chính xác dòng tiền của KH vay trong tƣơng lai. Hay nói cách khác, rủi ro là điều không thể tránh khỏi và đã đƣợc kiểm chứng bằng sự gia tăng đột ngột các vụ thất thoát vốn vay có quy mô lớn hay bằng các vụ phá sản của các NH (Peter Rose, 2002). Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc.
Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính cp thit v 22 of 68. 3 Nhƣ vậy, việc theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro chấp nhận đƣợc đặt ra những nhƣ tiêu chuẩn mới trong họat động quản trị, đòi hỏi các NHTM phải không ngừng nâng cao chất lƣợng họat động cũng nhƣ hiệu quả kiểm soát rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro cho vay nói riêng.2 Rủi ro cho vay khó dự báo chính xác Tính khó dự báo của rủi ro cho vay xuất phát từ nguyên nhân gây ra rủi ro. Thứ nhất, rủi ro cho vay do nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân xảy ra ngoài ý muốn nhƣ rủi ro bất khả kháng do thiên tai dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn chiến tranh, cấm vận, bạo loạn, đình công, thay đổi chính sách của Chính phủ; thiếu nguồn nguyên, nhiên, vật liệu liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh dẫn đến ngừng hoạt động, giá mua nguyên vật liệu tăng cao ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ; hàng hóa bị tồn kho không bán đƣợc do cầu thị trƣờng giảm hoặc suy thoái kinh tế trong hoặc ngoài nƣớc, lãi suất tiền vay NH tăng cao do NH điều chỉnh tăng lãi suất, hàng bán bị trả lại hoặc không thu hồi đƣợc tiền, KH bị ốm đau thƣờng xuyên hoặc mắc bệnh hiểm nghèo; KH bị thôi việc, mất việc làm dẫn đến khó khăn về tài chính không thực hiện đƣợc nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng… Thứ hai, rủi ro cho vay do nguyên nhân chủ quan về NH và KH: Thông tin KH cung cấp không trung thực, do cán bộ NH vi phạm đạo đức nghề nghiệp, quy trình cho vay và quản lý khoản vay không chặt chẽ….
Nhƣ vậy, dù xuất phát từ nguyên nhân nào thì những biến cố không mong đợi trên đều gây khó khăn cho việc dự báo rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM.3 Rủi ro cho vay có tính chất đa dạng và phức tạp Tính đa dạng và phức tạp của rủi ro cho vay biểu hiện ở các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay nhƣ từ KH vay vốn, đặc điểm của ngành nghề cho vay, phƣơng thức cho vay, năng lực thẩm định của cán bộ. Chính tính chất này buộc NH phải chú trọng nhiều hơn đến công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay, từ việc thiết lập chính sách cho vay, sử dụng các công cụ Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính cp thit v 23 of 68.
4 quản trị rủi ro, đến quy trình quản trị trong khâu nhận diện, đánh giá, đo lƣờng, xử lý và kiềm soát rủi ro trong hoạt động cho vay.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay 1.1 Nguyên nhân khách quan từ môi trƣờng bên ngoài Môi trƣờng tự nhiên: Môi trƣờng tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng, sự trong sạch môi trƣờng.Môi trƣờng tự nhiên ảnh hƣởng to lớn đến mọi hoạt động của đời sống xã hội, nó còn là yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của nhiều ngành nghề nhƣ: nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng, du lịch, vận tải, trong nhiều trƣờng hợp chính các điều kiện tự nhiên trở thành yếu tố quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ. Bên cạnh đó, các yếu tố thuộc môi trƣờng tự nhiên nhƣ: thiên tai, dịch bệnh …có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Khi thiên tai xảy ra, đây là nguyên nhân bất khả kháng tác động tới ngƣời vay, làm mất khả năng thanh toán cho NH. Rủi ro cho vay là rất lớn và con ngƣời rất khó có thể kiểm soát hiệu quả đƣợc, khả năng không thu hồi nợ đƣợc rất cao.
Môi trƣờng chính trị: Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tƣ, các nhà quản trị DN quan tâm để phân tích, dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà DN đang có mua bán hoặc đầu tƣ. Môi trƣờng chính trị ổn định hay biến động là những tín hiệu ban đầu để nhận diện cơ hội hay nguy cơ để DN đƣa ra những quyết định đầu tƣ. Môi trƣờng chính trị ổn định sẽ tạo điều cho các DN phát triển, mạnh dạn đầu tƣ SXKD, mua bán. Ngƣợc lại, một môi trƣờng chính trị bất ổn, bị cấm vận kinh tế, tệ nạn xã hội tràn lan.