chương 1, sau khi thu thập và xử lý số liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu, việc phân tích chặt chẽ các kết quả của mô hình là vô cùng quan trọng.1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006- 2014.1 TÌNH HÌNH TÀI SẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Tài sản tại các NHTM trong thời gian qua có sự tăng trưởng rõ rệt, được thể hiện theo nhóm ngân hàng trong biểu đồ 3.1 như sau Biểu đồ 3. Tình hình tài sản các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2014 Đơn vị tính: tỷ đồng. 3000000 2500000 2000000 1500000 1000000 500000 0 NHNN NHTMCP NNNg 2011 2012 2013 2014 Ghi chú: NHTMNN: NHTM nhà nước NHTMCP: NHTM cổ phần NHNNg: NHTM nước ngoài Qua biểu đồ 3.1 ta thấy rằng NHNN và NHTMCP là 2 nhóm ngân hàng có tổng tài sản cao nhất, chiếm hơn 2/3 giá trị tổng tài sản của ngành ngân hàng qua các năm. Giai đoạn từ năm 13 2012 các NHTM cổ phần rõ ràng tăng trưởng nhanh hơn các NHTM nhà nước.
Ngoài ra, tuy chỉ có 5 NHNN nhưng giá trị tổng tài sản của nhóm ngân hàng chiếm tỷ trọng rất cao và ngày càng tăng trưởng. Theo báo cáo tài chính của các ngân hàng, tại thời điểm năm 2014, tổng tài sản của Vietinbank đang dẫn đầu hệ thống với hơn 597 nghìn tỷ đồng, theo sau là BIDV với 579 nghìn tỷ và Vietcombank hơn 504 nghìn tỷ đồng. Các ngân hàng này cũng bỏ khá xa tài sản của các ngân hàng cổ phần nhóm sau với quy mô gấp hơn 2 lần. Tổng tài sản của MDBank hiện đang nhỏ nhất hệ thống khi đạt chưa đầy 7 nghìn tỷ đồng.
Cùng với SaiGonBank thì đây là 2 ngân hàng duy nhất có tổng tài sản dưới 20 nghìn tỷ đồng. Tình hình cơ cấu tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam được thể hiện qua hình 2.1sau đây: Hình 3.1 Cơ cấu tài sản của các ngân hàng Việt Nam năm 2013- 2014 Đơn vị tính: % Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng của KPMG Hình 3.1 cho ta thấy được cơ cấu tài sản của các NHTM qua hai năm gần đây. Nhìn chung, dư nợ cho vay khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản của các ngân hàng. Đây là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là thành phần chứa đựng rủi ro lớn nhất mà ngân hàng cần phải đặc biệt quan tâm và quản lý chặt chẽ.
Khoản mục lớn thứ hai đó là tiền gửi và cho vay với các tổ chức tín dụng khác, hay nói cách khác là các khoản giao dịch trên thị trường liên ngân hàng. Như vậy, các ngân hàng có mối liên hệ với nhau rất lớn, nên nếu một ngân hàng hoạt động thất bại thua lỗ thì cũng sẽ có khả năng làm lây lan ảnh hưởng tiêu cực các ngân hàng khác, cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 là một 14 minh chứng. Chứng khoán đầu tư chiếm tỷ trọng lớn thứ ba và cuối cùng là các một số khoản mục tài sản khác.2 TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2011- 2014 Biểu đồ 3. Tăng trưởng vốn điều lệ theo nhóm của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2014 Đơn vị tính: tỷ đồng.
200 180 160 140 120 2011 100 2012 2013 80 2014 60 40 20 0 NHTMNN NHTMCP NHNNG Nguồn: Tổng hợp BCTC của các NHTM Ghi chú: NHTMNN: NHTM nhà nước NHTMCP: NHTM cổ phần NHNNg: NHTM nước ngoài Nhìn chung, các ngân hàng thương mại quốc doanh có lượng vốn điều lệ khá cao so với các NHTMCP khác. Năm 2012, dựa vào biểu đồ 3.2, ta thấy nhóm các NHTM nhà nước bao gồm 5 ngân hàng nhưng có vốn điều lệ gần 120 tỷ đồng, chiếm 36% vốn của toàn hệ thống, trong khi nhóm NHTM cổ phần là gần 180 tỷ đồng, tổng cộng chiếm 40% vốn của toàn hệ thống. Đến năm 2014, tổng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng đạt hơn 428,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,21% so với cuối 2013. Trong đó nhóm các ngân hàng thương mại Nhà nước có vốn điều lệ 130.634 tỷ đồng, ngân hàng TMCP là 190.314 tỷ đồng, tổng cộng chiếm 75% vốn của toàn hệ thống.
Phụ lục 1 cho thấy Vietinbank hiện là ngân hàng dẫn đầu hệ thống về vốn điều lệ với hơn 37,200 tỷ đồng, cao hơn trên dưới chục nghìn tỷ so với 3 ngân hàng ở vị trí tiếp theo là Agribank, BIDV và Vietcombank. Trong hệ thống, vẫn có 12 ngân hàng vốn 15 điều lệ dưới 4,000 tỷ, trong đó có 6 ngân hàng vốn tròn 3,000 tỷ - tối thiểu theo quy định của NHNN – đó là BaoVietBank, KienLongBank, NamABank, PGBank, VietcapitalBank và VietBank. Về cơ cấu nợ phải trả được thể hiện trong hình 2.2 như sau Hình 3.2 Cơ cấu nợ phải trả của các ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2013- 2014 Đơn vị tính: % Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng của KPMG.2 cho ta thấy được cơ cấu nợ phải trả của các NHTM giai đoạn 2013- 2014. Tiền gửi của khách hàng là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống NHTM.
Đây là nguồn đầu vào chủ yếu của các NHTM cho hoạt động tín dụng, ngân hàng sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi huy động được là những khoản tiền gửi này và sau đó cung cấp cho các chủ thể cần vốn. Khoản mục này là lớn nhất vì vậy tạo nên áp lực phải trả chủ yếu của các NHTM. Quan trọng hơn khi sử dụng chúng để hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải hết sức thận trọng trong việc phê duyệt cho vay bởi nếu rủi ro tín dụng xảy ra cho lượng lớn các khoản vay thì ngân hàng không những chỉ bị mất thu nhập lãi mà còn mất thanh khoản, không đủ vốn để trả cho các khoản tiền gửi đến hạn dễ dẫn đến sụp đổ, phá sản như những cuộc khủng hoảng đã xảy ra trước đây. Khoản mục tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong tổng nợ phải trả của các ngân hàng.
Như đã nói ở phần tài sản thì hiện nay các NHTM Việt Nam đều đang có mối liên hệ với nhau trên thị trường liên ngân hàng rất sôi nổi.3 TÌNH HÌNH TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM Hệ thống ngân hàng Việt Nam được thành lập 1990 và có tốc độ phát triển rất mạnh mẽ. 16 Kể năm 2007 đến nay tốc độ tăng trưởng doanh thu toàn ngành là 19.47% và đây là mức tăng trưởng cao hơn 3 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2007- 2014 của nền kinh tế Việt Nam (theo báo cáo ngành ngân hàng của MBS). Doanh thu cụ thể của ngành tín dụng giai đoạn 2007- 2014 được thống kê trong bảng dưới đây.1 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu ngành ngân hàng 2007- 2014.25 Tăng trưởng doanh thu 38.09 Nguồn: Tác giả tổng hợp. Tín dụng là hình thức kinh doanh chủ chốt của tất cả các NHTM.
Cùng với sự tác động của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đều chịu nhiều ảnh hưởng và có những biến động trong những năm qua, đặc biệt là giai đoạn từ sau năm 2007. Quy mô và tầm quan trọng của ngành ngân hàng so với nền kinh tế cũng tăng theo thời gian, và cũng từ năm 2007, quy mô tín dụng trên tổng GDP nền kinh tế luôn ở mức cao hơn 80%, cụ thể qua đồ thị trong hình dưới đây Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và quy mô tín dụng/GDP Đơn vị tính: % Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam của MBS Hình 3.3 cho thấy được các ngân hàng Việt Nam đã thể hiện sự tăng trưởng ấn tượng trong tín dụng từ năm 2001, đạt điểm cao nhất vào năm 2007 với tốc độ tăng trưởng tín dụng là 53,9%. Trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2014, tăng trưởng tín dụng của ngành giảm mạnh và chỉ còn 13% vào năm 2014. Tuy nhiên, từ sau năm 2007, đóng góp của ngành ngân 17 hàng vào GDP chiếm tỉ lệ càng cao, càng thể hiện tầm quan trọng của ngành ngân hàng trong nền kinh tế hiện nay.4 TÌNH HÌNH RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM Giai đoạn những năm gần đây, các NHTM Việt Nam đang phải đối phó với tình trạng nợ xấu tăng liên tục như hình 3.4 như sau Hình 3.4 Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015.
Đơn vị tính: % Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng của VCBS. Thông qua hình 3.4, nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam nhìn chung có xu hướng tăng đều qua các năm theo báo cáo của các ngân hàng. Dựa vào số liệu tổng hợp, thì nợ xấu có xu hướng gia tăng từ năm 2007, đến năm 2010, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM theo báo cáo của NHNN chưa tính nợ của Vinashin thì chỉ 2,52%, tương đương khoảng 58. Con số khá nhỏ và trong tầm kiểm soát, mặc dù gia tăng khá nhiều so với năm 2009 là 2,05%.
Trong thời gian này, nợ xấu vẫn chưa được đánh giá là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng gây ra bất ổn tài chính quốc gia. Do đó, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng năm 2010 tiếp tục duy trì ở mức tăng 27,65% (hình 3.Và các NHTM phải tự xử lý nợ xấu thông qua trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định hoặc phát mãi tài sản bảo đảm hoặc tái cơ cấu lại nợ vay. Năm 2011, nợ xấu bắt đầu gia tăng về giá trị lên 85,000 tỷ đồng, chiếm 3. Đồng thời, các NHTM bắt đầu gặp khá nhiều trục trặc về thanh khoản và kết quả hoạt động kinh doanh chững lại.
Đây là hậu quả tất yếu của: chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và có phần thắt chặt, nợ xấu tích tụ từ nhiều năm trước được bùng phát và tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ ngày càng nhiều. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới hệ thống ngân hàng thương mại, làm gia tăng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng; giảm tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu; 18 rủi ro thanh khoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống ngân hàng. Và các giải pháp được sử dụng để xử lý nợ xấu năm 2011 phân tán ở từng ngân hàng thông qua siết chặt thẩm định khách hàng vay vốn; hay đảo nợ, giãn/ hoãn/ giảm nợ; và tuân thủ quy định, điều kiện cho vay với doanh nghiệp nhà nước Năm 2012, kết quả tất yếu là bùng nổ tỷ lệ nợ xấu, đồng thời xuất hiện sự thiếu chính xác trong báo cáo số liệu nợ xấu của các ngân hàng. Trong giai đoạn 2008 – 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là 26,56% (hình 3.3), nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu lại ở mức 51%.