phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng của khách hàng cá nhân Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro tín dụng của khách hàng cá nhân vay vốn tiêu dùng tại Agribank chi nhánh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy phát triển và hạn chế rủi ro tín dụng của khách hàng cá nhân vay vốn tiêu dùng tại Agribank chi nhánh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng tại các tổ chức tín dụng 1. Cho vay tiêu dùng của ngân hàng 1. Quan điểm về cho vay tiêu dùng của ngân hàng Theo từ điển mở Wikipeda,“Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức của doanh nghiệp đang hướng nỗ lực Marketing vào.
Họ là người có điều kiện ra quyết định mua sắm. Khách hàng là đối tượng được thừa hưởng các đặc tính, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ” Theo đó, khách hàng của ngân hàng là một tập hợp những cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng dịch vụ mà ngân hàng cung ứng và mong muốn đƣợc thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Khách hàng có thể là bên tham gia vào các quá trình cung cấp đầu vào nhƣ gửi tiết kiệm, … và cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vay vốn từ ngân hàng. Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển.
Sự thành công hay thất bại của khách hàng là nhân tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, ngƣợc lại, sự đổi mới của ngân hàng về chất lƣợng sản phẩm dịch vụ lại góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của khách hàng. Mặt khác, theo Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN thì khách hàng của ngân hàng là pháp nhân hoặc cá nhân hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Khách hàng cho vay tiêu dùng là tập hợp những cá nhân, nhóm ngƣời có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo Quy định của pháp luật, có nhu cầu sử dụng sản phẩm của ngân hàng và mong muốn đƣợc thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Nhƣ vậy cho vay tiêu dùng của ngân hàng là một tập hợp những cá nhân có tƣ cách pháp lý, có nhu cầu sử dụng dịch vụ và mong muốn đƣợc thỏa mãn nhu cầu đó của mình.
Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Thứ nhất, cho vay tiêu dùng là cá nhân, hộ gia đình vay để đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng. Đối với cho vay tiêu dùng có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh thì quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đƣợc pháp luật thừa 1 nhận, nhƣng do năng lực hạn chế nên hoạt động kinh doanh thƣờng không có quy mô lớn. Đối với cho vay tiêu dùng là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng, khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống nhƣ mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. Số tiền cho vay hai mục đích này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo.
Tuy nhiên, số lƣợng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn. Thứ hai, Đặc điểm về trình độ, độ tuổi của cho vay tiêu dùng. Nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng, vì khi chất lƣợng cuộc sống và trình độ dân trí đƣợc nâng cao, ngƣời dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Vì thế, đối với cho vay tiêu dùng thì đối tƣợng ở mọi trình độ khác nhau.
Độ tuổi sẽ đƣợc giới hạn từ 18 tuổi đến 60 tuổi. Thứ ba, đặc điểm về thu nhập của cho vay tiêu dùng; số lƣợng cho vay tiêu dùng đông do đối tƣợng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những ngƣời có thu nhập cao đến những ngƣời có thu nhập trung bình và thấp. Thứ tƣ, chất lƣợng thông tin cho vay tiêu dùng cung cấp không cao. Ngân hàng quyết định cho vay tiêu dùng dựa trên cơ sở phân tích các thông tin về: nghề nghiệp, thu nhập, trình độ… của khách hàng vay vốn, những thông tin này do khách hàng cung cấp, mang tính chủ quan ít đƣợc kiểm chứng, kiểm soát.
Do đó, mức chính xác của các thông tin khách hàng không cao, làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng cho vay cá nhân của ngân hàng. Thứ năm, cho vay tiêu dùng nhạy cảm với lãi suất. Giá trị khoản cho vay tiêu dùng vay thƣờng nhỏ, khách hàng thanh toán định kỳ, vì vậy số tiền mà khách hàng phải trả định kỳ mang tính thƣờng xuyên nên khách hàng quan tâm đến mức lãi suất khoản vay do trực tiếp ảnh hƣởng nhiều đến thu nhập của họ. Bên cạnh đó, khách hàng thƣờng quan tâm đến giá trị của cho vay tiêu dùng mang lại, thỏa mãn những nhu cầu cá nhân trƣớc mặt hơn là quan tâm đến chi phí của khoản vay.
Thứ sáu, nguồn trả nợ của cho vay tiêu dùng không ổn định. Nguồn trả nợ của cho vay cá nhân đƣợc trích từ thu nhập của khách hàng vay vốn, thu nhập lại biến động theo công việc, sức khỏe, cơ cấu và chu kỳ kinh tế. Từ đó, nguồn trả nợ 1 của các khoản vay cá nhân cũng biến động theo. Hoạt động cho vay đối với cho vay tiêu dùng của ngân hàng 1.
Khái niệm hoạt động cho vay đối với cho vay tiêu dùng của ngân hàng Cho vay của ngân hàng là việc chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngân hàng (Ngƣời sở hữu) sang khách hàng vay (ngƣời sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại ngân hàng với lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu. Theo khái niệm trên thì cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay mà Ngân hàng chuyển nhƣợng quyền sở hữu vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng. Dịch vụ cho vay tiêu dùng của NHTM là toàn bộ các dịch vụ và sản phẩm đƣợc cung ứng tới từng cá nhân và hộ gia đình thông qua mạng lƣới hoạt động tổ chức cho vay của ngân hàng nhƣ các chi nhánh, các phòng giao dịch trực thuộc. Cũng có thể hiểu dịch vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng là những dịch vụ cung ứng những tiện ích, gói sản phẩm cho vay của ngân hàng đến tận tay ngƣời tiêu dùng.
Đối tƣợng của dịch vụ cho vay tiêu dùng rất đông đảo và đa dạng, bao gồm các cá nhân và hộ gia đình, thực hiện cho vay có thể sử dụng phƣơng tiện gắn liền với công nghệ cao và cho phép phục vụ mọi nơi, mọi lúc với nhiều mục đích; qua đó, khách hàng có thể tiếp cận, sử dụng dịch vụ một cách trực tiếp thông qua các phƣơng tiện, tính năng của các thiết bị điện tử viễn thông, công nghệ thông tin này càng phát triển. Trƣớc đây, các Ngân hàng ít quan tâm đến đối tƣợng khách hàng là cá nhân, vì món vay thƣờng rất nhỏ. Nhƣng ngày nay, các Ngân hàng đã quan tâm nhiều hơn đến đối tƣợng này, vì thu nhập thu đƣợc từ hoạt động này sẽ là không nhỏ nếu nhƣ Ngân hàng thực hiện tốt công tác cho vay và công tác quản lí khoản vay. Các thủ tục cho vay ngày càng trở nên gọn nhẹ hơn, đáp ứng đƣợc nhiều hơn những yêu cầu của khách hàng đƣa ra.
Đặc điểm cho vay tiêu dùng của ngân hàng Cho vay khách hàng cá nhân có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác, cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, đặc điểm về đối tƣợng cho vay. Đối tƣợng vay là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có nhu cầu sử dụng vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tƣ hay 1 hoạt động sản xuất kinh doanh. Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, cho vay tiêu dùng thƣờng có số lƣợng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thƣờng xuyên và chịu sự ảnh hƣởng nhiều của môi trƣờng kinh tế, văn hóa – xã hội. Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của cho vay tiêu dùng cũng rất khác nhau.
Thứ hai, Đặc điểm về quy mô khoản vay. Hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhƣng số lƣợng khoản vay lớn, do cho vay KHCN là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ nên quy mô của một khoản vay tƣơng đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lƣợng các khoản vay lại rất lớn do đối tƣợng của cho vay là các cá nhân, hộ gia đình với số lƣợng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng. Thứ ba, Đặc điểm về mục đích vay. Mục đích vay vốn thƣờng nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình.
Khi nền kinh tế có sự tăng trƣởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tƣơng lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tƣơng lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế suy thoái ngƣời dân thƣờng có xu hƣớng giảm tiêu dùng, giảm đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cƣờng tiết kiệm và hạn chế vay mƣợn từ Ngân hàng. Nhu cầu vay của khách hàng thƣờng kém nhạy cảm với lãi suất, thông thƣờng ngƣời đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai yếu tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng.
Thứ tƣ, Đặc điểm về cho vay KHCN đòi hỏi giá trị tài sản bảo đảm cao. Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có đƣợc khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tƣơng lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro.