Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" do sinh viên Nguyễn Hồ Hạnh thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Pháp luật dân sự, người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Minh Hồng, năm 2023).

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Gia đình là tế bào của xã hội, trong đó quan hệ hôn nhân là nền tảng hình thành trên cơ sở tình cảm được pháp luật công nhận nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Pháp luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là Luật HN&GĐ năm 2014, đã ghi nhận hệ thống quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng dựa trên nguyên tắc bình đẳng và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ.

Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định: tình trạng bất bình đẳng giới trên thực tế còn tồn tại, bạo lực gia đình diễn biến phức tạp, các hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy xuất hiện nhiều và xu hướng các cặp vợ chồng tự ý ly thân có chiều hướng gia tăng. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng là đòi hỏi cấp thiết nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận về nội dung, vai trò của quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng; đánh giá thực trạng các quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành; chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tế. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý - thực tiễn và ý nghĩa của việc điều chỉnh quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng;
  2. Phân tích quá trình phát triển của các quy định pháp luật Việt Nam về quyền, nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng qua các giai đoạn lịch sử (trước 1945, 1945–1954, 1954–1975, 1975–nay);
  3. Phân tích toàn diện nội dung các quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014;
  4. Đánh giá thực tiễn thực hiện, chỉ ra vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như các giải pháp thực thi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng; các quy định pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung và văn bản lập pháp: Khóa luận nghiên cứu các quy định về quyền, nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng qua các thời kỳ: thời kỳ phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ), thời kỳ Pháp thuộc (Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ 1936, Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ 1883), thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay (Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; Sắc lệnh số 97/SL và Sắc lệnh số 159/SL năm 1950; Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 ở miền Nam; Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986, 2000 và trọng tâm là Luật HN&GĐ năm 2014).
    • Về không gian và thời gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng Luật HN&GĐ năm 2014 kể từ thời điểm có hiệu lực thi hành đến nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và hệ thống văn bản áp dụng

Khóa luận vận dụng hệ thống văn bản pháp lý quốc tế và quốc gia để thiết lập cơ sở phân tích:

  • Văn bản quốc tế: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (UDHR - Điều 18); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW - Điều 9, 10, 11, 12, 15, 16).
  • Văn bản pháp luật quốc gia: Hiến pháp năm 2013 (Điều 20, 22, 23, 24, 26, 35, 40); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 25 về quyền nhân thân, Điều 31, 33, 34, 44); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Chương III: Điều 17 đến Điều 26); Luật Bình đẳng giới năm 2006 (Điều 14); Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 13); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Điều 6); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 (Điều 3, 5); Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Điều 164, 182); Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Điều 59) và Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (Điều 6, 9).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận chung: Vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng gia đình và bảo đảm quyền con người, bình đẳng giới.
  • Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
    • Phương pháp phân tích và diễn giải quy phạm pháp luật: Phân tích nội hàm các điều luật trong Luật HN&GĐ năm 2014 và các luật liên quan để làm rõ quyền, nghĩa vụ nhân thân của vợ và chồng.
    • Phương pháp so sánh luật học và lịch sử lập pháp: Đối chiếu quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử (phong kiến, Pháp thuộc, chế độ cũ ở miền Nam, các đạo luật HN&GĐ 1959, 1986, 2000, 2014) nhằm chỉ ra sự kế thừa, phát triển và những bước tiến bộ trong việc công nhận quyền nhân thân của vợ chồng.

Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định; giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, 2021, 2022); các công trình nghiên cứu chuyên khảo, luận văn thạc sĩ chuyên ngành như: Nguyễn Văn Cừ & Ngô Thị Hường (2002), Phạm Thị Chuyền (2015), Đinh Hạnh Nga (2007), Trần Thị Mai Hương (2015), Nguyễn Thị Thương (2017), và các bình luận khoa học của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện (2002).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng

Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích đặc điểm, cơ sở quy định, ý nghĩa và lược sử quá trình phát triển của chế định quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng trong pháp luật Việt Nam.

1. Khái niệm và đặc điểm

  • Khái niệm: Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng là những quyền, nghĩa vụ liên quan đến lợi ích tinh thần của vợ, chồng, không có nội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền, không chuyển giao được cho người khác, phát sinh và tồn tại bình đẳng giữa vợ và chồng trên cơ sở hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
  • 5 đặc điểm cơ bản:
    1. Phát sinh trên cơ sở hôn nhân hợp pháp và gắn liền với vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân; chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt theo quy định pháp luật.
    2. Mang tính chất phi tài sản, bảo đảm các giá trị tinh thần (sự yêu thương, gắn bó, hạnh phúc gia đình) không thể cân đong, đo đếm bằng vật chất.
    3. Không thể chuyển giao cho chủ thể khác, chỉ có thể do chính người vợ và người chồng trong quan hệ hôn nhân xác lập, thực hiện.
    4. Có tính chất hai chiều và tương hỗ, trong đó quyền của bên này đồng thời là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại (ví dụ: nghĩa vụ chăm sóc, tôn trọng nhau).
    5. Chi phối quyền và nghĩa vụ về tài sản, tạo căn cứ phát sinh trách nhiệm liên đới, quyền đại diện xác lập giao dịch phục vụ nhu cầu thiết yếu hoặc quản lý tài sản chung.

2. Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền, nghĩa vụ nhân thân

  • Cơ sở pháp lý: Kế thừa các nguyên tắc về quyền con người, quyền công dân từ Hiến pháp (Điều 20, 22, 23, 24, 26, 35, 40 Hiến pháp 2013), Bộ luật Dân sự (Điều 25 BLDS 2015) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước CEDAW).
  • Cơ sở thực tiễn: Nhằm xóa bỏ tàn dư tư tưởng trọng nam khinh nữ, gia trưởng phong kiến; định hướng chuẩn mực ứng xử gia đình văn minh; nâng cao ý thức trách nhiệm và bảo vệ gia đình trước các tác động tiêu cực của lối sống thực dụng.
  • Ý nghĩa xã hội và pháp lý: Xây dựng gia đình tiến bộ, bình đẳng, giữ gìn truyền thống đạo lý "tình - nghĩa"; tạo hành lang pháp lý để vợ chồng thực hiện quyền và tạo căn cứ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp, bảo vệ khi quyền nhân thân bị xâm phạm.

3. Lược sử pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng

Giai đoạn lịch sử Văn bản tiêu biểu Đặc điểm quy định quyền và nghĩa vụ nhân thân
Thời kỳ phong kiến Quốc triều hình luật (thời Hậu Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo; thừa nhận chế độ đa thê; người chồng có đặc quyền lớn. Tuy nhiên, pháp luật phong kiến đã bảo vệ tính mạng, thân thể người vợ (xử phạt chồng đánh chết hoặc gây thương tích cho vợ) và quy định nghĩa vụ sống chung (phạt chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại theo Điều 308 Quốc triều hình luật).
Thời kỳ Pháp thuộc Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ 1936, Dân luật giản yếu Nam kỳ 1883 Áp dụng chính sách chia để trị; thừa nhận quyền gia trưởng tuyệt đối của người chồng (quyết định nơi cư trú, nghề nghiệp, kiểm soát thư từ, đại diện toàn bộ cho vợ theo Điều 97 Dân luật Bắc kỳ); phân biệt địa vị pháp lý giữa vợ cả và vợ thứ.
Giai đoạn 1945 - 1954 Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 97/SL, Sắc lệnh 159/SL (1950) Khẳng định nguyên tắc bình đẳng nam nữ (Điều 5 Sắc lệnh 97/SL); công nhận người phụ nữ có chồng có toàn năng lực hành vi dân sự (Điều 6 Sắc lệnh 97/SL), xóa bỏ quyền gia trưởng phong kiến.
Giai đoạn 1954 - 1975 Miền Bắc: Luật HN&GĐ 1959
Miền Nam: Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972
Miền Bắc: Xóa bỏ tàn tích phong kiến, khẳng định bình đẳng vợ chồng về mọi mặt, bảo đảm chế độ một vợ một chồng.
Miền Nam: Còn duy trì quyền gia trưởng hạn chế của người chồng, nhưng từng bước thừa nhận quyền của người vợ trong việc nuôi dạy con cái, đại diện gia đình và quyền yêu cầu Tòa án can thiệp khi người chồng lạm quyền.
Giai đoạn 1975 đến nay Luật HN&GĐ 1986, Luật HN&GĐ 2000, Luật HN&GĐ 2014 Luật 1986 & 2000: Hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng, tự do hôn nhân, kế hoạch hóa gia đình.
Luật 2014: Tiếp tục kế thừa toàn diện và bổ sung quy định tiến bộ cho phép vợ chồng thỏa thuận sống riêng vì lý do nghề nghiệp, học tập, công tác hoặc lý do chính đáng khác (Khoản 2 Điều 19).

Chương 2: Nội dung quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 2 phân tích chuyên sâu các nhóm quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng được quy định từ Điều 17 đến Điều 26 của Luật HN&GĐ năm 2014, chia thành 3 nhóm quan hệ cụ thể:

1. Quyền và nghĩa vụ nhân thân thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng

  • Nghĩa vụ thương yêu và chung thủy (Khoản 1 Điều 19): Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Sự chăm sóc được biểu hiện ở cả khía cạnh vật chất (bảo đảm điều kiện sinh hoạt) và tinh thần (động viên khi ốm đau, hoạn nạn). Hành vi ngoại tình, chung sống như vợ chồng với người khác bị nghiêm cấm và có thể bị xử lý hành chính (Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) hoặc xử lý hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015). Các hành vi bạo lực gia đình (hành hạ, ngược đãi, lăng mạ, xúc phạm danh dự...) bị xử lý theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
  • Nghĩa vụ sống chung (Khoản 2 Điều 19): Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Luật bổ sung trường hợp ngoại lệ: trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Quy định này bảo vệ sự phát triển toàn diện của trẻ em và ngăn ngừa tình trạng kết hôn giả tạo nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trục lợi quốc tịch, xuất nhập cảnh.

2. Quyền và nghĩa vụ nhân thân thể hiện quyền bình đẳng, tự do, dân chủ giữa vợ và chồng

  • Quyền lựa chọn chỗ ở, nơi cư trú (Điều 20): Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính. Nơi cư trú có thể là nơi vợ chồng cùng sinh sống thường xuyên, hoặc hai nơi ở riêng biệt nếu có lý do chính đáng và nhằm củng cố quan hệ gia đình.
  • Quyền được tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 21): Cụ thể hóa quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm tại Điều 20 Hiến pháp 2013 và Điều 34 BLDS 2015; nghiêm cấm các hành vi xúc phạm, bạo lực thể xác, tinh thần trong đời sống vợ chồng; người vi phạm phải bồi thường thiệt hại và chịu chế tài pháp luật.
  • Quyền được tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 22): Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không bên nào được cưỡng ép hoặc cản trở bên kia theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Hành vi cản trở có thể bị xử lý hình sự theo Điều 164 Bộ luật Hình sự 2015 (phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm).
  • Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 23): Vợ chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp, học tập nâng cao trình độ, tham gia công tác xã hội. Pháp luật quy định chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi cản trở phụ nữ tiếp cận giáo dục, việc làm hoặc hoạt động chính trị (phạt tiền từ 500.000 đến 20.000.000 đồng theo Nghị định số 125/2021/NĐ-CP).

3. Chế định đại diện cho nhau giữa vợ và chồng (Điều 24, 25, 26)

  • Đại diện theo ủy quyền: Vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự bằng văn bản; người đại diện chỉ được thực hiện trong phạm vi ủy quyền.
  • Đại diện theo pháp luật: Áp dụng khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia đủ điều kiện làm người giám hộ, hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và được Tòa án chỉ định. Trường hợp đặc thù: Khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự để tránh tình trạng xung đột lợi ích ("vừa đá bóng vừa thổi còi").
  • Đại diện trong kinh doanh chung và tài sản chung đứng tên một người: Vợ chồng trực tiếp kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó. Đối với tài sản chung có đăng ký quyền sở hữu/sử dụng nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng, các giao dịch xác lập trái quy định về đại diện sẽ bị vô hiệu, trừ trường hợp bảo vệ người thứ ba ngay tình theo quy định của BLDS.
  • Trách nhiệm liên đới: Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch phát sinh từ nghĩa vụ đại diện.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng và đề xuất giải pháp hoàn thiện

Dựa trên kết cấu đề cương và phần mở đầu của khóa luận, Chương 3 tập trung vào các nội dung trọng tâm sau:

  1. Những kết quả đạt được: Tác động tích cực của Luật HN&GĐ năm 2014 trong việc nâng cao vị thế của người phụ nữ, củng cố nguyên tắc bình đẳng giới, bảo đảm quyền tự do cư trú, học tập, công tác và tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch cho các giao dịch dân sự của vợ chồng.
  2. Tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn: Tình trạng bạo lực gia đình (thể xác, tinh thần, kinh tế) vẫn diễn biến phức tạp; nhận thức xã hội về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sự tôn trọng nghề nghiệp của bạn đời còn hạn chế; hiện tượng vi phạm nghĩa vụ chung thủy (ngoại tình) khó thu thập chứng cứ để xử lý; các bất cập phát sinh khi áp dụng quy định về đại diện và xác định trách nhiệm liên đới trong giao dịch tài sản.
  3. Nguyên nhân của những tồn tại: Sự tồn tại dai dẳng của định kiến giới và tư tưởng gia trưởng phong kiến; sự bất cập, chưa đồng bộ giữa quy định pháp luật HN&GĐ với pháp luật tố tụng dân sự, xử lý vi phạm hành chính; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn mang tính hình thức.
  4. Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Giải pháp hoàn thiện pháp luật: Bổ sung hướng dẫn áp dụng thống nhất các căn cứ xác định "nhu cầu thiết yếu", "lý do chính đáng" khi vợ chồng sống riêng; hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền nhân thân của người vợ khi giải quyết ly hôn; sửa đổi, bổ sung chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ chung thủy và bạo lực gia đình.
    • Giải pháp thực thi: Đẩy mạnh công tác hòa giải cơ sở, tăng cường tuyên truyền bình đẳng giới, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Tòa án, Hội Liên hiệp Phụ nữ và chính quyền địa phương trong việc bảo vệ quyền nhân thân của vợ chồng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận, quá trình lập pháp và phân tích chi tiết hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh các quyền, nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014:

Nhóm quyền và nghĩa vụ nhân thân Căn cứ pháp lý trọng tâm Nội dung pháp lý cốt lõi
Quan hệ tình cảm, đạo đức Điều 19 Luật HN&GĐ 2014, Luật PCBLGĐ 2022 Nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, chăm sóc lẫn nhau; nghĩa vụ sống chung (thừa nhận ngoại lệ sống riêng có thỏa thuận hoặc lý do chính đáng).
Quyền tự do, dân chủ cá nhân Điều 20, 21, 22 Luật HN&GĐ 2014; Điều 20, 23, 24 Hiến pháp 2013 Quyền tự do lựa chọn nơi cư trú; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi bên.
Phát triển kinh tế - xã hội Điều 23 Luật HN&GĐ 2014, Luật Bình đẳng giới 2006 Quyền và nghĩa vụ giúp đỡ nhau học tập, nâng cao trình độ, lựa chọn nghề nghiệp, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Chế định đại diện và trách nhiệm Điều 24, 25, 26 Luật HN&GĐ 2014; Điều 44 BLDS 2015 Đại diện theo ủy quyền, đại diện theo pháp luật khi mất/hạn chế NLHVDS; đại diện trong kinh doanh; trách nhiệm liên đới đối với nhu cầu thiết yếu.

Đóng góp của đề tài

Tác giả đã chỉ ra rằng các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề quyền nhân thân của vợ chồng ở những góc độ đơn lẻ (như góc độ bảo vệ phụ nữ, bình đẳng giới hoặc ảnh hưởng của Nho giáo). Khóa luận này đã tiếp cận một cách bao quát, toàn diện và chuyên sâu toàn bộ chế định quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng trên nền tảng của Luật HN&GĐ năm 2014, đặt trong mối liên hệ mật thiết với Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, do đó nguồn dữ liệu chủ yếu tập trung vào phân tích quy phạm pháp luật thực định, lịch sử lập pháp và các tài liệu thứ cấp; việc khảo sát số liệu thực tiễn xét xử án hôn nhân gia đình tại các Tòa án địa phương chưa được đào sâu theo chuỗi dữ liệu thống kê nhiều năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua phân tích các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân các cấp về tranh chấp quyền nhân thân (đặc biệt là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ sống chung, bạo lực tinh thần, bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm và trách nhiệm liên đới trong giao dịch dân sự).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu có giá trị tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Xã hội học gia đình và Bình đẳng giới.
  • Nội dung giá trị nhất: Phần đối sánh, phân tích lịch sử lập pháp Việt Nam qua các thời kỳ (Chương 1) và phần luận giải chi tiết từng quyền, nghĩa vụ nhân thân gắn với hệ thống chế tài hành chính, hình sự (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng được tác giả định nghĩa như thế nào?

Theo khóa luận, quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng là những quyền, nghĩa vụ liên quan đến lợi ích tinh thần của vợ, chồng, không có nội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền, không chuyển giao được cho người khác, phát sinh và tồn tại bình đẳng giữa vợ và chồng trên cơ sở hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có điểm mới nào nổi bật về nghĩa vụ sống chung so với Luật năm 2000?

Khoản 2 Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014 bổ sung quy định cho phép vợ chồng không bắt buộc phải sống chung trong trường hợp: có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

3. Trong trường hợp một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia yêu cầu ly hôn thì việc đại diện được xử lý như thế nào?

Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và Bộ luật Dân sự, khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Tòa án sẽ chỉ định người khác (không phải người vợ/chồng đang yêu cầu ly hôn) làm người đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để bảo đảm tính khách quan và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị mất năng lực hành vi.

4. Pháp luật phong kiến Việt Nam quy định như thế nào về bảo vệ thân thể và nghĩa vụ sống chung của người vợ?

Trong Quốc triều hình luật: Nếu người chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại thì mất vợ (Điều 308, nếu đã có con thì hạn 1 năm). Về thân thể, chồng đánh vợ bị thương thì bị xử phạt (nhẹ hơn đánh người thường 3 bậc), đánh chết vợ bị tội kém tội cố sát 3 bậc; ngược lại người vợ đánh chồng bị đày hoặc xử phạt nặng hơn.

5. Hành vi cản trở quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo giữa vợ và chồng bị xử lý như thế nào?

Theo Điều 164 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc cản trở người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính mà còn vi phạm) bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hồ Hạnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, nguồn gốc lịch sử và nội dung các quy định về quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Công trình làm nổi bật tính chất phi tài sản, tính bình đẳng và mối liên hệ chặt chẽ giữa quyền nhân thân với việc xác lập các giao dịch tài sản trong gia đình. Đây là tài liệu tổng hợp có giá trị tham khảo tốt cho việc học tập, nghiên cứu lập pháp và tìm hiểu chuyên sâu về pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.