CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm quyền tự do ngôn luận trong lĩnh vực báo chí 1. Khái niệm quyền tự do ngôn luận trong lĩnh vực báo chí Tự do ngôn luận là một phạm trù chính trị pháp lý liên quan đến quyền con người, đến mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, đến tự do báo chí, tự do thông tin, và nhiều yếu tố khác về kinh tế, văn hóa và xã hội. Với thuật ngữ này, ta có thể chia tách câu chữ để tìm hiểu rõ ràng hơn.
“Tự do” theo John Locke (1632-1704) là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào2. Đây được xem là định nghĩa nguyên thủy nhất về tự do và cũng từng được nhiều người tán đồng. Tuy nhiên hạn chế ở định nghĩa này là nếu tự do là khả năng con người làm bất cứ điều gì mình mong muốn thì sẽ dẫn đến việc lạm dụng sự tự do làm phương hại đến cá nhân khác cũng như trật tự xã hội. Đến lượt Hegel thì ông đã đưa ra một định nghĩa để khắc phục hạn chế trên: tự do là cái tất yếu được nhận thức3.
“Cái tất yếu” được hiểu là các quy luật tự nhiên. Vậy có thể hiểu tự do theo quan điểm của Hegel là quy luật tự nhiên được nhận thức. Montesquieu thì cho rằng: tự do chỉ có thể là được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm; tự do là quyền được làm tất cả các điều pháp luật cho phép4. Triết gia Isaiah Berlin (1909- 1997) phân biệt hai khái niệm về sự tự do: tự do tiêu cực và tự do tích cực.
Tự do tiêu cực là tự do không có sự cưỡng chế, nghĩa là người ta có thể làm bất cứ điều gì miễn là không bị cấm cản; trái lại, tự do tích cực là tự do con người ta thực sự làm được điều mình muốn làm5. Với nhiều cách hiểu về “tự do” như vậy, ta có thể hiểu chung nhất, tự do là được làm những gì pháp luật cho phép, và tự do không phải là tuyệt đối, nó bị giới hạn bởi pháp luật. “Ngôn luận” là cách dùng ngôn ngữ đưa ra những lý luận để chứng minh, thảo luận về một vấn đề gì đó, cũng không thể chỉ hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ dùng lời nói mà còn cả chữ viết. Từ cách hiểu trên có thể thấy “ngôn luận” là hành vi của những người đã trưởng thành về năng lực, tức là không áp dụng máy móc cho trẻ em6, là hành vi của những người “có hiểu biết”.
3 Hegel (1977), Triết học tôn giáo, gồm 2 tập, t. Mátxcơva, tr. 4 Montesquieu 2006), Bàn về tinh thần pháp luật, người dịch Hoàng Thanh Đạm, NXB Lý luận chính trị, tr.com/2015/01/22/mot-so-van-de-ve-quyen-tu-do-ngon-luan/ truy cập ngày 15/09/2016 6 John Stuart Mill (2006), Bàn về tự do, người dịch Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, tr. 7 Vậy tự do ngôn luận mang ý nghĩa là tự bản thân mỗi người dùng lời lẽ, luận điệu của mình thông qua ngôn ngữ, chữ viết để thể hiện quan điểm, ý kiến để cổ vũ, bình luận hay thậm chí là phản bác về một vấn đề, sự kiện nào đó mà không trái các quy định của pháp luật.
Tự do ngôn luận, cũng là một trong các quyền “tự nhiên” khác của con người, như quyền tự do báo chí, quyền tự do lập hội… là nội dung quan trọng của quyền con người. Khi xác định tự do ngôn luận là một quyền thì đó là “những hành vi hợp pháp mà các cá nhân, pháp nhân, nhà nước thực hiện, không ai có thể ngăn cấm. Việc thực hiện quyền phụ thuộc vào ý chí của chủ thể, không bắt buộc, trừ những trường hợp quyền đồng thời là nghĩa vụ, trách nhiệm. Quyền của chủ thể có thể là quyền tự nhiên, vốn có, không do ai quy định, cho phép và cũng có thể trên cơ sở quy định của pháp luật, trên cơ sở ủy quyền của chủ thể khác”7.
Tuy nhiên cần hiểu quyền ở đây chỉ mang tính tương đối, quyền của chủ thể luôn bị hạn chế theo ý chí của nhà nước (giai cấp cầm quyền) và của chủ thể khác. Sở dĩ quyền tự do ngôn luận (QTDNL) xem là một quyền tự nhiên vì quyền này gắn liền với nhu cầu giao tiếp của con người, đó là nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của mỗi con người để tồn tại và phát triển trong xã hội. Con người sinh ra tự nhiên đã có quyền, không phải do nhà nước ban phát cho công dân của mình, nhà nước có nghĩa vụ ghi nhận và bảo đảm cho mọi công dân được thực hiện quyền này trên thực tế một cách tốt nhất và bất cứ nền dân chủ nào cũng có sứ mệnh tôn trọng và bảo vệ quyền này8. QTDNL (tự do biểu đạt) ở đây được hiểu đó chính là tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên giới.
Khoản 2 Điều 19 Công ước các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) quy định: “Mọi người có quyền tự do biểu đạt; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Và như vậy khái niệm tự do ngôn luận ở đây sẽ gồm ba nội dung là quyền tự do tìm kiếm thông tin, tự do tiếp nhận thông tin và tự do truyền bá, phổ biến thông tin. - Tự do tìm kiếm thông tin là khả năng của công dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin, tiếp xúc các thông tin, tài liệu do cơ quan nhà nước đang nắm giữ mà mình cần hoặc quan tâm trong phạm vi pháp luật cho phép. Công dân có quyền xem, đọc, nghe các tác phẩm, hồ sơ, tài liệu chứa 7 “Từ điển Bách khoa Toàn thư” online, http://dictionary.vn truy cập ngày 14/04/2016 8 http://tks.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/484 truy cập ngày 14/04/2016 8 đựng các thông tin được các cơ quan nhà nước quản lý hoặc kiểm soát; ghi chép, trích dẫn, sao chụp các thông tin đó dưới các hình thức khác nhau và bằng phương tiện khác nhau… Đây là một trong những điều kiện để đảm bảo việc tiếp cận thông tin cần thiết để công dân thực hiện quyền truyền bá, phổ biến thông tin9.
- Tiếp nhận thông tin của công dân là khả năng công dân nhận được những thông tin, tài liệu do cơ quan nhà nước tạo ra, nắm giữ trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước thông qua các kênh truyền thông công khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu, quyền này thể hiện công dân có quyền tiếp cận những thông tin đúng, đủ, kịp thời và dễ tiếp cận10. - Truyền bá hay phổ biến thông tin có nghĩa là cá nhân công dân có thông tin được quyền truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin mà mình đang nắm giữ cho mọi người mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về ranh giới hay hình thức đưa tin11. Quyền tìm kiếm thông tin, quyền tiếp nhận thông tin và quyền truyền đạt thông tin có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Việc đảm bảo thực tốt quyền tiếp cận thông tin, tiếp nhận thông tin thì sẽ đảm bảo được thông tin được công bố công khai để mọi người cùng biết và từ những thông tin đó thì công dân sẽ chủ động hơn trong việc truyền bá cũng như thể hiện quan điểm của mình.
Như vậy quyền này bao gồm việc biểu đạt và tiếp nhận những thông điệp về ý tưởng và quan điểm dưới mọi hình thức có thể truyền đạt đến người khác. Quyền này bao gồm các tranh luận chính trị, bình luận về một người và về các vấn đề chung, vận động, thảo luận về nhân quyền, báo chí, các biểu đạt văn hóa và nghệ thuật, giáo dục và tranh luận tôn giáo. Vấn đề ở đây là quyền tự do biểu đạt không phụ thuộc vào hình thức biểu đạt hay nội dung của thông điệp được biểu đạt. Và mặc dù nó là quyền tự nhiên nhưng vẫn phải có sự hạn chế cần thiết: “mọi hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm”.
Ngày nay việc sử dụng QTDNL với sự hỗ trợ của các các phương tiện truyền thông hiện đại sẽ rất hữu ích cho việc hiểu về nội hàm của các quyền cũng như cho việc sử dụng để vận động thực thi các quyền trong thực tiễn. Báo chí và các phương tiện truyền thông có vai trò thiết yếu trong việc truyền tải các quan điểm và ngôn 9 Thái Thị Tuyết Dung (2015), Quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Tp. 10 Thái Thị Tuyết Dung (2015), tlđd (9), tr. 11 Tường Duy Kiên (2018), “Quyền tiếp cận thông tin: quy định quốc tế và đặc điểm chung của một số nước”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 01, tr.
Trong thời đại ngày nay báo chí và truyền thông là những công cụ chính của tự do biểu đạt. Vì vậy, tự do báo chí đôi khi được đồng nhất với tự do ngôn luận. Trên thực tế báo chí có mối quan hệ chặt chẽ với QTDNL, là một phương thức hữu hiệu để thực hiện QTDNL. Thông qua báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng, công dân thực hiện QTDNL của mình trong việc thể hiện quan điểm, các ý kiến riêng của bản thân, trao đổi thảo luận, góp ý với cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội về những vấn đề cụ thể nhằm cải tiến cách làm việc, cải thiện hình thức hoạt động, hoặc ủng hộ cái đúng, cái tốt, cái tiến bộ, phê phán và phản đối cái sai, cái xấu, cái lạc hậu….
Nói cách khác, lĩnh vực báo chí là một trong các hình thức để thông qua đó mỗi người thực hiện việc sử dụng QTDNL của mình. Trong chính lĩnh vực báo chí cũng đã có các quy định riêng, cụ thể để QTDNL được thực thi hiệu quả, đảm bảo mỗi người đều được tiếp cận với QTDNL. Theo khía cạnh này thì tự do truyền bá thông tin và các ý tưởng về các vấn đề xã hội và chính trị giữa những công dân, các ứng cử viên và các đại biểu dân cử là cần thiết.