Chương 1 Nhà nước và pháp luật cần phải có những chính sách, quy định cụ thể nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân. Trên cơ sở sự công nhận và bảo hộ của Nhà nước mà công dân có thể có một nơi cư trú nhất định theo sự lựa chọn của bản thân. Các quy định nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân theo pháp luật; đồng thời cũng bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả cao. 17 luan an Chương 2 THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
Thực trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân số của thành phố Hồ Chí Minh đến việc bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân. Thành phố Hồ Chí Minh được thành lâp vào ngày 02 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đồng thời đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh Vị trí, địa hình Với tổng diện tích 2.082 người, trong đó: thành thị 7.364 người (chiếm 79,25%), nông thôn: 1.718 người (chiếm 20,75%) (số liệu 2019), thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn thứ 2 Việt Nam về diện tích (sau Hà Nội) và lớn nhất về dân số. Về kinh tế Trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh – Hòn Ngọc Viễn Đông giữ vai trò đầu tàu. Đến cuối năm 2018, GDP bình quân đầu người của thành phố ước đạt hơn 6000 USD/người, cao gấp gần 2.5 lần so với mức trung bình cả nước.
Năm 2018 dân số toàn thành phố đã đạt đến 13 triệu người, tăng gấp 5,2 lần so với thời điểm tháng 4 năm 1975 (nếu tính cả người cư trú không đăng ký). Lượng người nhập cư đổ vào thành phố cũng ngày càng tăng năm sau cao hơn năn trước. Theo đà phát triển của kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh có dân số tăng quá nhanh và đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn. Các quận nội thành, đường sá thường xuyên ùn tắc do lượng xe quá lớn, giờ cao điểm trở nên quá tải,.
Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Triều 18 luan an cường gây ngập cục bộ cũng là vấn đề nan giải của thành phố cần có biện pháp khắc phục. Môi trường thành phố đang bị ô nhiễm nặng do khí thải công nghiệp sản xuất phương tiện giao thông, và nhiều các công trường xây dựng …. Ngoài ra, thành phố đang phải đối mặt với nguy cơ bị nhấn chìm vì nước biển dâng lên do biến đổi khí hậu gây ra.
Mỗi khi đến mùa mưa, thành phố phải đối mặt với việc ngập lụt trên các tuyến đường, hiện nay thành phố đã có chủ trương khắc phục. Về dân cư 19 luan an Bảng 2. Dân cư thành Phố Hồ Chí Minh qua các năm.4% Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam Dân số thành phố đã tăng gấp 10 lần kể từ năm 1929. Sau khi thống nhất đất nước, dân số Thành phố Hồ Chí Minh gia tăng nhanh, dân nhập cư từ nông thôn di chuyển lên thành phốn không kiểm soát được.
Theo số liệu thống kê chính thức, dân số Thành phố Hồ Chí Minh năm 1975 là 3,5 triệu người. Tính đến năm 2018, dân số toàn Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 8,5 triệu người, với diện tích hơn 2000 km², mật độ dân số đông. Hiện Thành phố Hồ Chí Minh đang gặp phải vấn đền dân số, diện tích đất không thay đổi từ năm 1976 nhưng dân số tăng hàng năm cho nên tạo áp lực lớn lên nền kinh tế và cả về quản lý dân cư, tạo một áp lực lớn cho chính quyền thành phố. Với tổng diện tích 2.082 người, trong đó: thành thị 7.364 người (chiếm 79,25%), nông thôn: 1.718 người (chiếm 20,75%) (số liệu 2019) Và một khó khăn khác là sự phân bố dân cư ở thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều.
Trong khi một số quận nội thành có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ , Nhà Bè, Bình Chánh… có mật độ tương đối thấp khoảng 100người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5%. Một khó khăn khác, trong những năm gần đây dân cư ngoại thành có xu hướng chuyển về nội thành làm ăn sinh sống. Trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu 21 luan an khách du dich vãng lai tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đến năm 2019, dân số của thành phố là 8. Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn thành phố Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Việc ban hành các quy định về quyền tự do cư trú của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh.1 Tổ chức hành chính Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là thành phố trực thuộc Trung ương của. Về mặt hành chính, thành phố có 322 đơn vị hành chính cấp xã nằm trong 24 đơn vị hành chính cấp huyện.
Dân số 24 quận huyện thành phố Hồ Chí Minh Nguồn: Công an Tp.HCM Diện Diện Dân số Hành Dân số Hành Tên Tên tích tích (người) chính (người) ch nh (km²) Bình Tân 52,02 784.000 10 phường Quận (19) BìnhThạnh 20,78 499.000 20 phường 10 Quận 1 7,72 142.000 16 phường phường Phú Nhuận 4,88 163.000 15 phường 11 Quận 2 49,79 180.000 phường Tân Bình 22,43 474.000 15 phường 14 Tân Phú 15,97 485.000 11 phường Quận 3 4,92 190.000 phường 22 luan an Nguồn: Công an Tp.HCM 15 Thủ Đức 47,8 592.000 12 phường Quận 4 4,18 175.000 phường Huyện (5) 15 Quận 5 4,27 159.000 phường 1 thị trấn, BìnhChánh 252,56 705.000 phường 1 thị trấn, 6 Cần Giờ 704,45 71.000 phường 1 thị trấn, 16 Củ Chi 434,77 462.000 20 xã phường 13 Quận 9 114 397.000 1 thị trấn, phường Hóc Môn 109,17 542.000 phường 1 thị trấn, 6 Nhà Bè 100,43 206.000 phường 11 Quận 12 52,74 620.000 phường 23 luan an 2. Tổ chức chính quyền Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân là hai cơ quan của chính quyền thành phố Hội đồng Nhân dân thành phố, với các đại biểu được bầu cử trực tiếp nhiệm kỳ 5 năm, có quyền quyết định các kế hoạch phát triển dài hạn về kinh tế, văn hóa, giáo dục,. của thành phố. Đứng đầu Hội đồng Nhân dân gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch và một Ủy viên thường trực.
Hội đồng Nhân dân thành phố bầu nên Ủy ban Nhân dân thành phố, cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý về mọi hoạt động chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa trên địa bàn thành phố. Đứng đầu Ủy ban Nhân dân gồm một Chủ tịch và các Phó Chủ tịch. Các sở, ngành của Ủy ban Nhân dân sẽ quản lý về các lĩnh vực cụ thể, như y tế, giáo dục, đầu tư, tư pháp, tài chính,. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố đương nhiệm là ông Nguyễn Thành Phong.
Quyền tự do cư trú của công dân ghi nhận trong Hiến pháp đã được cụ thể hoá trong Luật Cư trú với những quy định rõ ràng, cụ thể, thông thoáng về thủ tục, điều kiện đăng ký cư trú, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật, giải quyết những bức xúc của nhiều người về vấn đề cư trú; đồng thời, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước về cư trú trong tình hình mới, góp phần tích cực, có hiệu quả trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở các cấp, địa phương trong tình hình hiện nay. Hiện nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh việc thực thi quyền đăng ký thường trú, tạm trú theo quy định của Luật cư trú được thực hiện tương đối tốt, đúng theo quy định của pháp luật. Các thủ tục, giấy tờ cần có trong hồ sơ theo quy định tại Luật cư trú 2013, Thông tư 35/2014/TT-BCA và quy định về thu 24 luan an các loại lệ phí theo Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 29/9/2014 thu Lệ phí đăng ký cư trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được niêm yết công khai tại trụ sở Công an quận/ huyện và được thực hiện nghiêm túc. Cán bộ tiếp dân thân thiện, không sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân.
Mức thu lệ phí được đánh giá là phù hợp với điều kiện kinh tế của nhân dân tại địa bàn thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh là một trong năm thành phố trực thuộc Trung Ương của nước ta, được ví là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển bậc nhất cả nước, thu hút sự đầu tư trong và ngoài nước cũng như thu hút nguời dân và người lao động từ các tỉnh thành khác sang sinh sống, học tập cũng như lao động. Từ đây đặt ra vấn đề về quản lý dân cư cụ thể là vấn đề đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, nhằm quản lý và kiểm soát sự nhập cư ồ ạt của công dân để đảm bảo quỹ đất tại thành phố, thực hiện tốt công tác quản lý dân cư, pháp luật quy định những điều kiện nhất định để đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ đặc điểm tình hình và công tác thực tế về đăng ký, quản lý cư trú của thành phố; Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có những quy định riêng về điều kiện, hồ sơ, thủ tục nhập hộ khẩu vào thành phố Hồ Chí Minh. Các văn bản của thành phố Hồ Chí Minh gồm: (i) Chỉ thị số: 21 /2007/CT-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2007 của ủy ban nhân dân thành phố hồ chí minh “về triển khai thực hiện luật cư trú và các quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý cư trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Căn cứ đặc điểm tình hình và công tác thực tế về đăng ký, quản lý cư trú của thành phố; Ủy ban nhân dân thành phố chỉ thị: 1. Hội đồng Phối hợp công tác, phổ biến, giáo dục pháp luật của thành phố và quận - huyện: Tổ chức tuyên truyền Luật Cư trú, Nghị định số 107/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 06/2007/TT-BCA (C11) của Bộ Công an (đã nêu trên) cho 25 luan an các ngành, các cấp và nhân dân thành phố thông suốt và thống nhất thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về cư trú trên địa bàn thành phố.