PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khi nhắc đến nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập – một xu hướng chung của thế giới mà hầu hết các quốc gia đã và đang cố gắng thực hiện. Chúng ta không thể không đề cập đến yếu tố khoa học kỹ thuật cũng như những phát minh, sáng chế của con người, đó là các yếu tố đóng vai trò nền tảng quyết định sự phát triển của một quốc gia. Sự phát triển ấy được đánh giá thông qua nhiều khía cạnh: Chỉ số tăng trưởng GDP bình quân đầu người, tốc độ phát triển kinh tế và đặc biệt là khoa học công nghệ mà thể hiện trong đó chính là sự hình thành của các tài sản trí tuệ.
Mặc dù không có hình dạng vật chất và không thể nhận biết được bằng các giác quan, nhưng vai trò và giá trị của tài sản trí tuệ lại vô cùng quan trọng. Một nhà nghiên cứu về lĩnh vực này đã nói rằng “Hệ thống SHTT là một trong những hòn đá tảng của chính sách kinh tế hiện đại ở tầm quốc gia và là một chất xúc tác cho sự phát triển”1. Giá trị của tài sản trí tuệ không chỉ thể hiện qua yếu tố vật chất mà đằng sau nó là cả uy tín của doanh nghiệp, niềm tin, sự nhìn nhận đánh giá của người tiêu dùng, các đối tác của doanh nghiệp và là cả một công trình nghiên cứu của người sáng tạo ra nó. Giáo sư Aswath Damodaran đã tính ra được giá trị của nhãn hiệu coca-cola với con số là 65,21 tỷ USD chiếm đến 84,17% giá trị của toàn bộ Công ty vào năm 2000 2.
Nhãn hiệu Apple cũng có giá trị không kém so với các nhãn hiệu nổi tiếng khác, với giá trị 104,3 tỷ USD, Apple luôn dẫn đầu trong tốp các nhãn hiệu hàng đầu có giá trị cao trên toàn thế giới3. Giá trị của tài sản trí tuệ mang lại cho doanh nghiệp là tất lớn thậm chí nó còn cao hơn gấp nhiều lần so với tài sản hữu hình mà doanh nghiệp đó đang sở hữu. Có thể hiểu rõ hơn thông qua ví dụ sau, “vào năm 1997, Texas instrument đã trả khoản tiền gây sửng sốt (359 triệu USD) để mua Amati Communications, một công ty nhỏ đóng ở California do giáo sư Cioffi thuộc trường đại học Stanford thành lập. Amati Communications nắm giữ 25 bằng độc quyền sáng chế then chốt về công nghệ đường dây thuê bao mà Texas instrument coi là có ý nghĩa quyết định đối với việc tham gia thị trường DSL.
Việc sở hữu các bằng độc quyền sáng chế của Amati Communications 1 Shahid Alikhan, Lợi ích kinh tế - xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển, trang 01. 2 Xem thêm https://www.vn/Tin-Tuc/Gia-tri-cua-thuong-hieu.Truy cập ngày 09/5/2016. 3 Xem thêm http://www.Truy cập ngày 09/5/2016. 1 đã cho phép Texas instrument chiếm lĩnh vị trí lãnh đạo trong công nghệ với lợi nhuận đầy hứa hẹn từ việc li xăng công nghệ đó cho những chủ thể khác”4.
Trong bất kỳ quan hệ nào, quyền sở hữu trí tuệ cũng nên được bảo hộ một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất, như vậy mới có thể phát huy được vai trò cũng như tầm ảnh hưởng của nó đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong QHLĐ cũng vậy, quyền sở hữu trí tuệ luôn đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường làm việc liên quan đến tài sản trí tuệ như bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sáng chế,… có thể là nơi phát sinh các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ từ phía NLĐ. Bất kỳ một vấn đề nào phát sinh cũng có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, và lý do để tác giả chọn đề tài này cũng vậy, không phải là ngẫu nhiên mà nó xuất phát từ những vấn đề thực tiễn, từ quy định của pháp luật và trong các quan hệ xã hội có liên quan.
Hiện nay, trong QHLĐ, các tranh chấp liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ ngày càng nhiều và phức tạp. Do vậy, cần phải có những quy chế phù hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên trong QHLĐ. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Quyền sở hữu trí tuệ trong QHLĐ” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Tình hình nghiên cứu đề tài Quyền sở hữu trí tuệ đã và đang được nhiều người biết đến và giá trị của nó ngày càng được đề cao.
Mặc dù là một lĩnh vực tương đối mới mẻ nhưng không phải không có các công trình nghiên cứu về nó. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ, Nhưng mỗi tác giả sẽ có những nhìn nhận, đánh giá, đối tượng, phạm vi và cách thức nghiên cứu khác nhau. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu đó là: Quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động – Lý Quảng Quyền, Luận văn cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài của tác giả đề cập đến vấn đề về các quyền sở hữu trí tuệ trong QHLĐ, Tác giả đã phân tích các thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ trong QHLĐ, đồng thời đưa ra các kiến nghị để nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật cả lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích các khía cạnh cụ thể về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ pháp luật thương mại và pháp luật cạnh tranh, chưa làm rõ 4 Rivette, Kline, “Rembrandts in the Attic”, World investment report 2000: “sáp nhập và mua lại xuyên biên giới và phát triển”, UNCTAD, 2001, trích từ: KanilIdris, Sở hữu trí tuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế (WIPO), tr. 2 được vấn đề về cách thức và phương pháp mà NSDLĐ cũng như NLĐ bảo vệ các tài sản trí tuệ của mình và một điều quan trọng mà tác giả của đề tài vẫn chưa đề cập tới là vấn đề quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam khi tham gia ký kết Hiệp định TPP. Đề tài thứ hai có thể đề cập đến ở đây là: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam - Trần Thị Kim Huế, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật SHTT,… về bí mật kinh doanh, nghiên cứu thực trạng bí mật kinh doanh trong QHLĐ và đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh.
Công trình nghiên cứu của Tác giả chỉ tập trung trong lĩnh vực SHTT và mới chỉ đề cập tới bí mật kinh doanh còn các vấn đề liên quan đến pháp luật Lao động và pháp Luật Thương mại cạnh tranh và các đối tượng SHTT khác thì vẫn chưa được nhắc tới. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong pháp luật lao động - Nguyễn Hoàng Yến, luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài nghiên cứu các vấn đề về cạnh tranh trong pháp luật lao động, thực trạng cũng như một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật. Tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu về các biện pháp nhằm hạn chế cạnh tranh trong QHLĐ đối với một số đối tượng sở hữu trí tuệ là bí mật kinh doanh và bí mật công nghệ, đối với những tài sản trí tuệ khác và những vấn đề khác liên quan đến quyền SHTT trong QHLĐ thì chưa được tác giả đề cập đến.
Ngoài ra, có thể kể đến các tạp chí khoa học của một số tác giả như bài viết của tác giả Lê Thị Thúy Dương, Nguyễn Hồ Bích Hằng – Nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động. Bài viết phân tích các quy định của pháp luật về bí mật kinh doanh trong QHLĐ và đề xuất một số kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả các nghĩa vụ này trên thực tế5. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Điều khoản bảo mật – hạn chế cạnh tranh trong HĐLĐ của tác giả Đoàn Thị Phương Diệp. Bài viết đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về điều khoản bảo mật, hạn chế cạnh tranh, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Nhìn chung, ở mỗi góc độ nghiên cứu, mỗi công trình đều có những hướng đi, cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Do vậy, để hoàn thiện và làm rõ hơn các khía cạnh mà những công trình nghiên cứu trước 5 Lê Thị Thúy Dương, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2015), “Nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh trong QHLĐ”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (06) , tr. 3 chưa đề cập, tác giả sẽ tiếp tục đi sâu, phân tích những điểm mới và bất cập của pháp luật hiện nay, từ đó có những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, lý giải cơ sở lý luận và pháp lý về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong QHLĐ, tác giả muốn làm rõ những vấn đề cần phải được quan tâm nhiều hơn đối với các quyền sở hữu trí tuệ trong QHLĐ.
Thông qua đó, nêu lên được thực trạng hiện nay cũng như có những đề xuất mang tính pháp lý và thực tiễn để đảm bảo hài hòa, ổn định mối QHLĐ khi liên quan đến các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ. Thông qua việc nghiên cứu, công trình sẽ góp phần hoàn thiện cả mặt lý luận và pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ trong QHLĐ. Qua đó, phản ánh được thực trạng, các quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ trong QHLĐ để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề cần nghiên cứu. Đề tài cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập cũng như giảng dạy pháp luật trong và ngoài trường.
Bên cạnh đó, tác giả cũng mong muốn những kiến nghị của mình có thể là nguồn tham khảo cho những nhà lập pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật sau này. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến các quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng trong quan hệ pháp luật lao động, pháp luật dân sự, pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật thương mại và một số điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề SHTT.