Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI 1. Khái quát về người đồng tính, song tính và chuyển giới Đồng tính, song tính hay gọi chung là “đồng tính luyến ái” (yêu cùng giới tính sinh học, bản dạng giới mà mình đang mang) và chuyển giới (yêu người có bảng dạng giới khác so với mình đang mang) đã có từ rất lâu. Đây không phải là hiện tượng xã hội mà nó là bản chất của những nhóm người không hề nhỏ trong xã hội và nó đã tồn tại hàng ngàn năm nay (chiếm từ 3% đến 7% dân số mỗi quốc gia). Khi nhìn vào quá trình phát triển của loài người, chúng ta sẽ nhìn thấy được bằng chứng của những người đồng tính, song tính và chuyển giới trong lịch sử, trong văn hóa của tất cả dân tộc trên toàn thế giới, có thể nói ở đâu có con người thì ở đó tồn tại đồng tính, song tính và chuyển giới.
Đồng tính và song tính trong lịch sử được xem như là một, gọi chung là “đồng tính luyến ái”, tuy xét ở gốc độ nghiên cứu về xu hướng tính dục hiện đại thì hai quan hệ này được xem là khác nhau. Nhưng do cổ xưa, người ta vẫn chưa có các cuộc nghiên cứu về xu hướng tính dục vì thế đồng tính và song tính được đánh đồng là một… Tuy nhiên nhìn vào lịch sử cổ đại sẽ không thấy được người chuyển giới, vì đơn giản do các thời kỳ đó chuyện phân biệt rạch rồi của đồng tính, song tính và đặc biệt là người chuyển giới là không thể. Người chuyển giới xuất hiện khi nền y học phát triển mạnh mẽ ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, dấu mốc đầu tiên cho khái niệm về người Chuyển giới, khi ca phẩu thuật chuyển giới đầu tiên từ Nam thành Nữ của Einar Mogens Wegener (1882-1931) được thực hiện vào năm 1930, ca phẫu thuật chuyển đổi giới tính của Einar Wegener khi đó đã trở thành đề nóng hổi, gây sốt trên các trang báo ở Đan Mạch và Đức, sau ca phẩu thuật chuyển giới cô đổi tên thành Lili Elbe, nhưng năm 1931 cô mất vì biến chứng của cấy ghép tử cung. Tất cả điều đó nói lên rằng người “đồng tính, song tính” xuất hiện sớm hơn so với người chuyển giới, cũng chứng minh được khi họ gần kề bên nhau thì không 8 luan an đơn thuần là có quan hệ với nhau về mặt tình cảm hoặc thể xác mà còn có quan hệ với nhau về mặt sở hữu chung tài sản.
Khi con người có mối quan hệ với nhau về mặt tình cảm, chắc sẽ có quan hệ với nhau liên quan đến tài sản. Khi các cặp đồng tính, song tính yêu nhau trong lý trí chắc chắn họ muốn dành tất cả tình yêu và tất cả những vật chất tốt nhất cho đối phương. Tuy nhiên vấn đề quan hệ sở hữu tài sản không được chú ý đến quá nhiều ở thời cổ đại vì đơn thuần hành vi tính dục đồng tính, song tính còn qua mới mẻ cho những con người sống trong thời đại đó, hay cho chính những người đồng tính, song tính. Lịch sử nhận thức người đồng tính, song tính và chuyển giới qua các thời kỳ Hơn 2000 năm sống trong sự kỳ thị, phân biệt đối xử kéo dài xuyên suốt từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ hiện đại, người LGBT quyết định không sống trong im lặng bóng tối, họ quyết định bước ra ánh sáng đứng lên đòi lại quyền bình đẳng cho mình, bằng các phong trào đấu tranh nổ ra trong những năm đầu cuối thế kỷ XVIII.
Giai đoạn này các nhà hoạt động nhân quyền, các nhà nghiên cứu khoa học về giới tính và tình dục đã bắt đầu nghiên cứu những người có quan hệ đồng tính luyến ái. Từ đây, các khái niệm liên quan đến người đồng tính, song tính, chuyển giới và bản dạng giới ra đời, đặt nền tảng vững chắc cho các lập luận liên quan đến người có quan hệ đồng giới và chuyển đổi giới tính, giúp cho việc có thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của người đồng tính, song tính và chuyển giới được đảm bảo. Thời kỳ thiện đại, chúng ta sẽ nhìn thấy được các phong trào đấu tranh, kêu gọi quyền bình đẳng của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên khắp mọi nơi. Đây cũng xem như là thời kỳ có nhiều bước ngoặc mang tính cách mạng của người trong cộng đồng tính, song tính và chuyển giới.
Vào ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức loại “đồng tính luyến ái” ra khỏi danh sách các căn bệnh. Và nhân sự kiện này, cộng đồng LGBT (đồng tính, song tính và chuyển giới) đã chọn ngày 17/5 làm Ngày Quốc tế chống kì thị người đồng tính và chuyển giới - IDAHOT (International Day Against Homophobia & Transphobia). Kể từ năm 2004, ngày 17/5 hằng năm được chọn là 9 luan an ngày Quốc tế chống kì thị người đồng tính, song tính và chuyển giới (IDAHOT), nhằm nâng cao nhận thức của người dân, thu hút sự quan tâm tới các quyền cơ bản của cộng đồng LGBT. Cũng chính giai đoạn này mà mối quan hệ gia đình của người LGBT được đặt ra trong những mối quan hệ gia đình thì vấn đề sở hữu tài sản chung của người LGBT là vấn đề được quan tâm hàng đầu khi các cặp LGBT về chung sống với nhau như vợ chồng trong vấn đề điều chỉnh của hệ thống pháp luật từng quốc gia nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của một con người trong đó có quyền sở hữu tài sản của người LGBT.
Lịch sử nhận thức về người đồng tính, song tính tại châu Âu-Mỹ Những năm cuối 1860, nghiên cứu về người đồng tính được bắt đầu lần đầu tiên ở Đức, nơi đã gắn liền với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ sự ngăn cấm đối với hành vi đồng tính. Thuật ngữ “đồng tính luyến ái” và “người đồng tính” không tồn tại cho đến cuối những năm 1860 khi chúng lần đầu xuất hiện ở Trung Âu. Vào năm 1864, Karl Heinrich Ulrichs là người đầu tiên viết về khái niệm của quan hệ đồng tính, ông được coi là “ông tổ của phong trào giải phóng quyền đồng tình nam” và Karoly Maria Kertbeny đã đặt nền móng thực sự cho những thuật ngữ này. Những thuật ngữ mà ông đã sử dụng trong cuộc đấu tranh vì “quyền của người đồng tính” ở Đức nhằm xóa bỏ tình trạng ngăn cấm quan hệ đồng tính.
Và cũng trong giai đoạn này một lĩnh vực nghiên cứu mới được bắt đầu, đó là “tình dục học” nghiên cứu về quan hệ tình dục và cụ thể là quan hệ đồng tính. Và cũng bắ tđầu từ đầu những năm 1860 này, người đồng tính vận động đấu tranh vì quyền lợi hợp pháp của người đồng tính và các chuyên gia về tình dục cũng tán thành rằng quan hệ đồng tính không phải là một tội lỗi hay tội ác. Năm 1886, Richard von Kraftt-Ebing (1840-1902) là một chuyên gia tình dục học lỗi lạc. Ông đã phá vỡ học thuyết của Ulrichs về quan hệ đồng tính.
Mặc dù ông cũng đã cho rằng đồng tính là bẩm sinh nhưng ông xem là một dạng khuyết điểm bẩm sinh thể hiện là giới tính bị đảo ngược và bị thoái hóa. Sau này cũng có nhiều chuyên gia cũng có cùng quan điểm với Ulrichs như Magnus Hirschfeld (1868-1935), một trong những người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì quyền của người đồng tính. Vượt ra 10 luan an khỏi nước Đức, Havelock Ellis (1859-1939) là một trong những người ủng hộ quyền của người đồng tính sớm nhất ở Anh Năm 1948, Alfred Kinsey đã xuất bản cuốn “Sexual Behavior in the Human Male”. Về mặt lịch sử, tác phẩm của ông đã góp phần đáng kể vào sự phát triển khái niệm “người đồng tính” hiện nay.
“Không thể phân tách đàn ông thành hai loại riêng biệt là dị tính và đồng tính luyến ái cũng như không thể chia thế giới thành cừu và dê. Thế giới tự nhiên hiếm khi được phân chia thành những loại riêng biệt… Trong mọi khía cạnh, thế giới sống này là liên tục. Dựa trên nguyên lý đó, cần thiết đề xuất một cách phân loại mới bằng cách thêm vào hai loại hoàn toàn dị tính và hoàn toàn đồng tính những loại khác mà chúng khác nhau một cách tương đối. Một người có thể nằm đâu đó trên thang đánh giá này trong một thời điểm nào đó của cuộc đời… Một thang đo 7 điểm một chiều thể hiện những thiên hướng tính dục” là kết quả nghiên cứu của ông được viết trong tác phẩm trên.
Đóng góp của ông cho sự phát triển khái niệm ngày nay, tình dục hướng đến giới tính khác cũng là vấn đề xu hướng tính dục giống như đồng tính luyến ái và xu hướng tính dục đó không thay đổi [49]. Trong những giai đoạn đầu, các chuyên gia trong lĩnh vực giới tính và tình dục học đã xếp người chuyển giới chung với những người có quan hệ tình dục đồng giới (đồng tính, song tính). Tuy nhiên khi ca phẩu thuật chuyển đổi giới tính đầu tiên được thực hiện 1930; cùng với các khái niệm liên quan đến giới tính và tình dục học được phát triển mạnh mẻ trong giai đoạn hiện đại, trong đó hai khái niệm quan trọng nhất là: bản dạng giới và xu hướng tính dục, giúp cho các nhà nghiên cứu không chỉ riêng các nhà tình dục học và giới tính mà còn có các nhà nhân quyền, xã hội hoc và các chuyên gia liên quan đến pháp luật và y học cũng tham gia nghiên cứu đối tượng người chuyển giới. Cũng chính trong giai đoạn này, cùng với người đồng tính và song tính, người chuyển giới cũng cất lên tiếng nói và có các hành động thiết thực để bảo vệ quyền liên quan đến nhân thân và quyền sở hữu tài sản khi có quan hệ tài sản trong quá trình chung sống với một người LGBT khác và những quyền liên đến sở hữu tài sản của mình thông qua các phong trào đấu tranh của người thuộc cộng đồng LGBT.
11 luan an Các phong trào đấu tranh của người đồng tính, song tính và chuyển tại khu vực lục địa Âu và Mỹ kéo dài hơn 100 năm đã đạt được những thành quả nhất định sau khi Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thông qua tuyên bố về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên toàn cầu vào tháng 6/2011. Tuyên bố khẳng định "mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về nhân cách và quyền lợi, và mọi người đều xứng đáng có được tự do và quyền lợi mà không bị phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào".