Quyền của người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hóa ở Việt Nam - Phần 1

Bài viết phân tích quyền người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hóa tại Việt Nam, do Nguyễn Hiền Phương chủ biên.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sách chuyên khảo

2021

206
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1. Khái niệm và đặc điểm người khuyết tật

1.1.1. Khái niệm người khuyết tật

Tóm tắt

I. Quyền người khuyết tật và công ước quốc tế

Quyền người khuyết tật là một vấn đề toàn cầu, được thể hiện rõ qua Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) năm 2006. CRPD là khung pháp lý quốc tế, yêu cầu các quốc gia phê chuẩn và nội luật hóa để đảm bảo quyền cho người khuyết tật. Việt Nam đã phê chuẩn CRPD vào năm 2014 và thực hiện điều chỉnh pháp luật quốc gia thông qua Luật Người khuyết tật năm 2010. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi vẫn còn nhiều hạn chế, cần nghiên cứu để đề xuất giải pháp hoàn thiện.

1.1. Khái niệm và đặc điểm người khuyết tật

Người khuyết tật (NKT) là những người có sự khác biệt về thể chất, tinh thần, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Khái niệm này thay đổi theo thời gian và bối cảnh xã hội. CRPD định nghĩa NKT là những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan, gặp rào cản trong việc tham gia xã hội. Việt Nam đã thay đổi thuật ngữ từ 'người tàn tật' sang 'người khuyết tật' để phù hợp với xu hướng quốc tế và giảm bớt sự kỳ thị.

1.2. Công ước quốc tế về quyền người khuyết tật

CRPD là công ước quốc tế quan trọng, được thông qua năm 2006, nhằm đảm bảo quyền con ngườibảo vệ quyền lợi người khuyết tật. CRPD yêu cầu các quốc gia thực hiện chính sách hỗ trợ người khuyết tật và loại bỏ rào cản xã hội. Việt Nam đã nội luật hóa CRPD thông qua các văn bản pháp luật, nhưng việc thực thi vẫn còn nhiều thách thức.

II. Thực trạng nội luật hóa tại Việt Nam

Việt Nam đã thực hiện nội luật hóa CRPD thông qua Luật Người khuyết tật năm 2010 và các văn bản liên quan. Tuy nhiên, thực trạng quyền người khuyết tật tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, và việc làm. Cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho NKT.

2.1. Thực trạng quyền người khuyết tật

Thực trạng quyền người khuyết tật tại Việt Nam cho thấy nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Mặc dù pháp luật đã quy định rõ, nhưng việc thực thi còn yếu kém, đặc biệt ở các vùng nông thôn và miền núi. NKT vẫn gặp nhiều rào cản trong giáo dục, y tế, và việc làm, dẫn đến tình trạng bất bình đẳng.

2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Để hoàn thiện pháp luật, cần tăng cường chính sách hỗ trợ người khuyết tật và nâng cao nhận thức xã hội. Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các quốc gia đã thành công trong việc thực thi CRPD. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội để đảm bảo quyền lợi cho NKT.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về quyền người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hóa tại Việt Nam có giá trị lớn trong việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao nhận thức xã hội. Kết quả nghiên cứu giúp đề xuất các giải pháp cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho NKT, đồng thời thúc đẩy sự tương thích giữa pháp luật quốc gia và quốc tế.

3.1. Giá trị nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về quyền người khuyết tậtthực trạng nội luật hóa tại Việt Nam. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, và sinh viên trong lĩnh vực luật pháp và xã hội học.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức xã hội về quyền lợi và vai trò của NKT trong cộng đồng.

21/02/2025
Bình luận về quyền của người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hoá ở việt nam nguyễn hiền phương chủ biên nguyễn thị kim ngân phần 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

NGUVEN HIEN PHƯƠNG THEO CONG UOC qudc TẾ VÀ THUC TRANG NỘI LUẬT HOA 6VIỆT NAM- ‘cy 1Ä Ea NHA XUẤT BAN CONG AN NHÂN DAN PGS. NGUVEN HIEN PHƯƠNG (Chu bién) _ BÌNH LUẬN VE QUYEN CUA NGUOI KHUYẾT TAT THEO CONG UOC QU0C TE VA THUC TRANG NOI LUAT HOA 0 VIỆT NAM NHA XUAT BAN CONG AN NHAN DAN TẠP THẺ TÁC GIÁ PGS. Nguyễn Thị Kim Ngân PGS. Nguyễn Hiền Phương TS.

Đỗ Thị Dung TS. Lê Thị Anh Đào NCS. Nguyễn Thị Thu Hường TS. Nguyễn Thị Tuyết Vân ThS.

Nguyễn Tiến Dũng NCS. Đoàn Xuân Trường CN. Huỳnh Phương Anh 258-2021/CXBIPH/08-03/CAND LỜI NÓI ĐẦU Người khuyết tật với những đặc điểm riêng của mình thường gặp phải những khó khăn trong việc thụ hưởng quyền trong các lĩnh vực của cuộc sống so với các đối tượng khác. Đảm bảo bình đẳng.

không phân biệt đối xử và thúc đẩy thụ hưởng quyền của người khuyết tật không chỉ là vấn để của riêng quốc gia tiến bộ nào mà đã trở thành vấn đề toàn cầu trong điều chỉnh pháp luật. Một sự kiện lớn trong khuôn khổ quyền của người khuyết tật là việc thông qua Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPR) (ngày 13/12/2006) của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Có thể nói, Công ước CRPD được coi như khung pháp lý quốc tế, trên cơ sở đó các quốc gia phê chuẩn Công ưóc và nội luật hoá thực hiện nhằm đảm bảo quyền cho người khuyết tật. Tính đến năm 2020, trên thế giới có 182 quốc gia đã tham gia phê chuẩn Công ước này.

Việt Nam là một trong những quốc gia ngay từ đầu đã có những động thái mạnh mẽ thể hiện thái độ và quan điểm của mình và chính thức phê chuẩn Công ước này vào ngày 28/12/2014. Bằng Luật Người khuyết tật năm 2010 và một số văn bản liên quan. Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh pháp luật quốc gia trong mối tương quan dam bao sự tương thích và nâng cao hơn nữa quyền của người khuyết tật trên mọi lĩnh vực. Bên cạnh những thành công đạt được, pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực 3 hiện còn nhiều hạn chế cần được nghiên cứu nhằm đề ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện.

Để giới thiệu với bạn đọc những quy định pháp luậi quế tế, cụ thể là Công ước quốc tế về quyển của người khuyết tật và thực trạng nội luật hoá ở Việt Nam trên các lĩnh vực chủ yếu như giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội, tiép cận các dịch vụ xã hội cơ bản hay trong lao động, việc làm, tu pháp. Nhà Xuất bản Công an nhân dân xuất bản cuối sách chuyên khảo “Bình luận về quyền của người khuyết tật theo Công ước quốc tế và thực trạng nội luật hoá ở Việt Nam’. Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của tập thể các giảng viên đại học và các chuyên gia có kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vực Luật Người khuyết tật ở Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Hiền Phương - Phó Viện trưởng Viện Luật so sánh Trường Đại học Luật Ha Nội là chủ biên và chịu trách nhiệm về nội dung. Cuốn sách không chỉ cung cấp những vấn đề lý luận về quyền của người khuyết tật mà còn bình luận chuyên sâu từng nội dung quyền trong các lĩnh vực của cuộc sống từ tiếp cận so sánh, soi chiếu giữa quy định của Công ưóc quốc tế về quyền của người khuyết tật và quy định pháp luật quốc gia.

Những kết quả nghiên cứu của cuốn sách có giá trị hữu ích trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy học tập và đặc biệt trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia hướng tới sự tương thích với pháp luật quốc tế, ngày càng nâng cao hơn nữa vị thế của người khuyết tật. Hy vọng cuốn sách sẽ luôn là tài liệu hữu ích với mỗi bạn đọc! Trân trọng giới thiệu! NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN c.„— CHUONG| | MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYÊT TAT VÀ QUYỀN CUA NGƯỜI KHUYET TAT NCS. Nguyễn Thị Thu Hường” 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.

Khái niệm người khuyết tật Khuyét tật là một hiện tượng đã, đang và sẽ tồn tại như một rhần trong cuộc sống loài người. Khuyết tật tạo nên sự đa dạng cho tự nhiên và cộng đồng xã hội. Nhà nước, xã Oi và tất cả mọi người phải thừa nhận và tôn trọng sự k¬ác biệt này. Người khuyết tat (NKT) là người có sự khác biệt về thể chất, tinh thần va họ gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống so với người bình thường.

Để loại bỏ những bất công NKT gặp phải và tăng cường cơ hội bình đẳng cho họ thì việc hiểu đúng thuật ngữ NKT là rất quan trong. Thuật ngữ NKT là một khái niệm dễ thay đổi, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, kinh tế, xã hội khác nhau mà ›ó những cách hiểu khác nhau. Theo thời gian, Trường Dei học Khoa học - Đại hoc Thái Nguyên. thuật ngữ NKT không chi thay đổi về hình thức (nói cách khác là thuật ngữ được sử dụng để mô tả tình trạng khuyết tật) mà còn thay đổi về nội hàm của thuật ngũ này.

Công ước về quyền của NKT năm 2006 ghi nhận “thừa nhận rằng sự khuyết tật là một khái niệm luôn tiến triển”. Điều này được thể hiện rõ nét qua các văn bản của Liên hợp quốc, văn kiện của Tổ chức Lao động quốc tê (ILO) cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế gidi. Thuật ngữ NKT trong pháp luật quốc tế có sự thay đổi trong cách gọi chủ thể này. Từ “handicapped”, “disabled person” (người tàn tật) được thay thế bởi “people with disabilities” (người khuyết tật).

Thuật ngữ “handicap” có lịch sử lâu hơn vì hồ sơ cho thấy rằng nó được sử dụng lần đầu tiên vào những năm 1500 -1600. Mặt khác, khuyết tật (disability) có lịch sử ngắn hơn nó được thay thế thuật ngữ tan tat (handicap) vào năm 1990). Trong một số văn bản pháp lý quốc tế trước đây, thuật ngữ “người tàn tật” được sử dung để chỉ NKT. Trong Tuyên ngôn về quyền của NKT được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 09/12/1975 sử dụng thuật ngữ “handicapped”.

Công ước Quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 20/11/1989 sử dụng thuật ngữ “trẻ em tàn tật” (disabled child). Trong văn ban cua Tổ chức Lao động Quốc tế như Khuyến nghị số 99 về phục hồi chức năng nghề nghiệp cho NKT năm 1955; Công ước * Gene Balinggan (2019), “The difference between handicapped and disabled”, Diference Between. 6 số 159 về phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho NKT năm 1983; Khuyến nghị số 168 về phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho NKT năm 1983 đều sử dụng thuật ngữ “disabled person”. Đến ngày 13/12/2006 tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng Liên hợp quốc các đại biểu đã nhất trí thông qua Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD).

Công ước đã chính thức sử dụng thuật ngữ “people with disabitity” (người khuyết tật). Pháp luật Việt Nam quy định về NKT cũng có sự thay đối theo thời gian. Các vấn đề liên quan đến NKT được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước cho đến nay. Vấn đề này được ghi nhận tại Điều 14 Hiến pháp năm 1946; Điều 32 Hiến pháp năm 1959; Điều 59, Điều 67, Điều 74 Hiến pháp năm 1992 đều sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”.

Một số văn bản khác như Pháp lệnh người tàn tật năm 1998: Bộ luật Lao động năm 1994; Nghị định số 81-CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về người tàn tật; Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 đều sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991; Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 sử dụng thuật ngữ “trẻ em tàn tật”. Thực ra cách gọi này là phù hợp với các văn ban của Liên hợp quốc va ILO ở thời điểm đó. Đến năm 2001, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 51/QH10 sửa đối, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó sửa doi Điều 59 dùng từ “khuyết tật” thay cho từ “tàn tật”. Sau này trong Hiến pháp 2013 và nhiều 7 luật chuyên ngành khác như Luật Người khuyết tật năm 2010; Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Luật Khám chữa bệnh năm 2009; Luật Thể dục thể thao năm 2006.

đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”. Việc thay đổi cách sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” thay thế “người tàn tật” có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi từ “khuyết tật” thường mang sắc thái tốt hon từ “tàn tat”. Từ “tàn” trong cụm từ “tàn tật” thường gợi đến hình ảnh tiêu cực, tạo cảm giác không còn kha năng gì, không có tương lai và điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nỗ lực phấn đấu vượt lên hoàn cảnh khó khăn.

Còn từ “khuyết” trong cụm từ “khuyết tật” mang ý nghĩa suy giảm chức năng nhưng vẫn còn khả năng phục hồi và còn hy vọng. Việc các quốc gia sử dụng thuật ngữ “người khuyết tat” là phù hợp với xu hướng chung hiện nay. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia khi định nghĩa NKT không chỉ thay đổi về mặt từ ngữ mà còn có sự thay đổi về nội hàm của khái niệm. Điều đó được thể hiện rõ nét qua quy định trong các văn bản của Liên hợp quốc từ xưa cho đến nay.

Theo Tuyên ngôn về quyền của NKT năm 1975 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc thì thuật ngữ người tan tat (handicapped) là bat cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần, những sự cần thiết của một số cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh về những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ. Quy tắc tiêu chuẩn về bình dang cơ hội cho 8 NKT do Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/12/1993, thuật ngữ “khuyết tật” có nghĩa là mất hay hạn chế cơ hội tham gia vào cuộc sống cộng đồng ở mức độ bình dang với những người khác. Nó miêu tả sự đối mặt giữa NKT và môi trường. Mục đích của thuật ngữ này là nhấn mạnh vào những thiếu sót của môi trường và của nhiều hoạt động có tổ chức của xã hội, ví dụ như, thông tin, liên lạc và giáo dục, ngăn cản NKT tham gia một cách bình đẳng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Quyền người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hóa tại Việt Nam - Phần 1 là một tài liệu chuyên sâu phân tích các quy định quốc tế về quyền của người khuyết tật và quá trình nội luật hóa tại Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời đánh giá thực trạng áp dụng các quy định này vào hệ thống pháp luật trong nước. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật, cũng như nhận thức sâu sắc hơn về sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý và xã hội liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thạc sĩ luật học quyền làm mẹ của người thuộc nhóm LGBT theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay, và Luận văn thạc sĩ công tác xã hội vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ người nghèo tại địa bàn xã viên nội huyện ứng hòa thành phố Hà Nội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề pháp lý và xã hội đang được quan tâm tại Việt Nam.