NGUVEN HIEN PHƯƠNG THEO CONG UOC qudc TẾ VÀ THUC TRANG NỘI LUẬT HOA 6VIỆT NAM- ‘cy 1Ä Ea NHA XUẤT BAN CONG AN NHÂN DAN PGS. NGUVEN HIEN PHƯƠNG (Chu bién) _ BÌNH LUẬN VE QUYEN CUA NGUOI KHUYẾT TAT THEO CONG UOC QU0C TE VA THUC TRANG NOI LUAT HOA 0 VIỆT NAM NHA XUAT BAN CONG AN NHAN DAN TẠP THẺ TÁC GIÁ PGS. Nguyễn Thị Kim Ngân PGS. Nguyễn Hiền Phương TS.
Đỗ Thị Dung TS. Lê Thị Anh Đào NCS. Nguyễn Thị Thu Hường TS. Nguyễn Thị Tuyết Vân ThS.
Nguyễn Tiến Dũng NCS. Đoàn Xuân Trường CN. Huỳnh Phương Anh 258-2021/CXBIPH/08-03/CAND LỜI NÓI ĐẦU Người khuyết tật với những đặc điểm riêng của mình thường gặp phải những khó khăn trong việc thụ hưởng quyền trong các lĩnh vực của cuộc sống so với các đối tượng khác. Đảm bảo bình đẳng.
không phân biệt đối xử và thúc đẩy thụ hưởng quyền của người khuyết tật không chỉ là vấn để của riêng quốc gia tiến bộ nào mà đã trở thành vấn đề toàn cầu trong điều chỉnh pháp luật. Một sự kiện lớn trong khuôn khổ quyền của người khuyết tật là việc thông qua Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPR) (ngày 13/12/2006) của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Có thể nói, Công ước CRPD được coi như khung pháp lý quốc tế, trên cơ sở đó các quốc gia phê chuẩn Công ưóc và nội luật hoá thực hiện nhằm đảm bảo quyền cho người khuyết tật. Tính đến năm 2020, trên thế giới có 182 quốc gia đã tham gia phê chuẩn Công ước này.
Việt Nam là một trong những quốc gia ngay từ đầu đã có những động thái mạnh mẽ thể hiện thái độ và quan điểm của mình và chính thức phê chuẩn Công ước này vào ngày 28/12/2014. Bằng Luật Người khuyết tật năm 2010 và một số văn bản liên quan. Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh pháp luật quốc gia trong mối tương quan dam bao sự tương thích và nâng cao hơn nữa quyền của người khuyết tật trên mọi lĩnh vực. Bên cạnh những thành công đạt được, pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực 3 hiện còn nhiều hạn chế cần được nghiên cứu nhằm đề ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện.
Để giới thiệu với bạn đọc những quy định pháp luậi quế tế, cụ thể là Công ước quốc tế về quyển của người khuyết tật và thực trạng nội luật hoá ở Việt Nam trên các lĩnh vực chủ yếu như giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội, tiép cận các dịch vụ xã hội cơ bản hay trong lao động, việc làm, tu pháp. Nhà Xuất bản Công an nhân dân xuất bản cuối sách chuyên khảo “Bình luận về quyền của người khuyết tật theo Công ước quốc tế và thực trạng nội luật hoá ở Việt Nam’. Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của tập thể các giảng viên đại học và các chuyên gia có kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vực Luật Người khuyết tật ở Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Hiền Phương - Phó Viện trưởng Viện Luật so sánh Trường Đại học Luật Ha Nội là chủ biên và chịu trách nhiệm về nội dung. Cuốn sách không chỉ cung cấp những vấn đề lý luận về quyền của người khuyết tật mà còn bình luận chuyên sâu từng nội dung quyền trong các lĩnh vực của cuộc sống từ tiếp cận so sánh, soi chiếu giữa quy định của Công ưóc quốc tế về quyền của người khuyết tật và quy định pháp luật quốc gia.
Những kết quả nghiên cứu của cuốn sách có giá trị hữu ích trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy học tập và đặc biệt trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia hướng tới sự tương thích với pháp luật quốc tế, ngày càng nâng cao hơn nữa vị thế của người khuyết tật. Hy vọng cuốn sách sẽ luôn là tài liệu hữu ích với mỗi bạn đọc! Trân trọng giới thiệu! NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN c.„— CHUONG| | MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYÊT TAT VÀ QUYỀN CUA NGƯỜI KHUYET TAT NCS. Nguyễn Thị Thu Hường” 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.
Khái niệm người khuyết tật Khuyét tật là một hiện tượng đã, đang và sẽ tồn tại như một rhần trong cuộc sống loài người. Khuyết tật tạo nên sự đa dạng cho tự nhiên và cộng đồng xã hội. Nhà nước, xã Oi và tất cả mọi người phải thừa nhận và tôn trọng sự k¬ác biệt này. Người khuyết tat (NKT) là người có sự khác biệt về thể chất, tinh thần va họ gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống so với người bình thường.
Để loại bỏ những bất công NKT gặp phải và tăng cường cơ hội bình đẳng cho họ thì việc hiểu đúng thuật ngữ NKT là rất quan trong. Thuật ngữ NKT là một khái niệm dễ thay đổi, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, kinh tế, xã hội khác nhau mà ›ó những cách hiểu khác nhau. Theo thời gian, Trường Dei học Khoa học - Đại hoc Thái Nguyên. thuật ngữ NKT không chi thay đổi về hình thức (nói cách khác là thuật ngữ được sử dụng để mô tả tình trạng khuyết tật) mà còn thay đổi về nội hàm của thuật ngũ này.
Công ước về quyền của NKT năm 2006 ghi nhận “thừa nhận rằng sự khuyết tật là một khái niệm luôn tiến triển”. Điều này được thể hiện rõ nét qua các văn bản của Liên hợp quốc, văn kiện của Tổ chức Lao động quốc tê (ILO) cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế gidi. Thuật ngữ NKT trong pháp luật quốc tế có sự thay đổi trong cách gọi chủ thể này. Từ “handicapped”, “disabled person” (người tàn tật) được thay thế bởi “people with disabilities” (người khuyết tật).
Thuật ngữ “handicap” có lịch sử lâu hơn vì hồ sơ cho thấy rằng nó được sử dụng lần đầu tiên vào những năm 1500 -1600. Mặt khác, khuyết tật (disability) có lịch sử ngắn hơn nó được thay thế thuật ngữ tan tat (handicap) vào năm 1990). Trong một số văn bản pháp lý quốc tế trước đây, thuật ngữ “người tàn tật” được sử dung để chỉ NKT. Trong Tuyên ngôn về quyền của NKT được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 09/12/1975 sử dụng thuật ngữ “handicapped”.
Công ước Quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 20/11/1989 sử dụng thuật ngữ “trẻ em tàn tật” (disabled child). Trong văn ban cua Tổ chức Lao động Quốc tế như Khuyến nghị số 99 về phục hồi chức năng nghề nghiệp cho NKT năm 1955; Công ước * Gene Balinggan (2019), “The difference between handicapped and disabled”, Diference Between. 6 số 159 về phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho NKT năm 1983; Khuyến nghị số 168 về phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho NKT năm 1983 đều sử dụng thuật ngữ “disabled person”. Đến ngày 13/12/2006 tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng Liên hợp quốc các đại biểu đã nhất trí thông qua Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD).
Công ước đã chính thức sử dụng thuật ngữ “people with disabitity” (người khuyết tật). Pháp luật Việt Nam quy định về NKT cũng có sự thay đối theo thời gian. Các vấn đề liên quan đến NKT được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước cho đến nay. Vấn đề này được ghi nhận tại Điều 14 Hiến pháp năm 1946; Điều 32 Hiến pháp năm 1959; Điều 59, Điều 67, Điều 74 Hiến pháp năm 1992 đều sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”.
Một số văn bản khác như Pháp lệnh người tàn tật năm 1998: Bộ luật Lao động năm 1994; Nghị định số 81-CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về người tàn tật; Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 đều sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991; Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 sử dụng thuật ngữ “trẻ em tàn tật”. Thực ra cách gọi này là phù hợp với các văn ban của Liên hợp quốc va ILO ở thời điểm đó. Đến năm 2001, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 51/QH10 sửa đối, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó sửa doi Điều 59 dùng từ “khuyết tật” thay cho từ “tàn tật”. Sau này trong Hiến pháp 2013 và nhiều 7 luật chuyên ngành khác như Luật Người khuyết tật năm 2010; Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Luật Khám chữa bệnh năm 2009; Luật Thể dục thể thao năm 2006.
đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”. Việc thay đổi cách sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” thay thế “người tàn tật” có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi từ “khuyết tật” thường mang sắc thái tốt hon từ “tàn tat”. Từ “tàn” trong cụm từ “tàn tật” thường gợi đến hình ảnh tiêu cực, tạo cảm giác không còn kha năng gì, không có tương lai và điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nỗ lực phấn đấu vượt lên hoàn cảnh khó khăn.
Còn từ “khuyết” trong cụm từ “khuyết tật” mang ý nghĩa suy giảm chức năng nhưng vẫn còn khả năng phục hồi và còn hy vọng. Việc các quốc gia sử dụng thuật ngữ “người khuyết tat” là phù hợp với xu hướng chung hiện nay. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia khi định nghĩa NKT không chỉ thay đổi về mặt từ ngữ mà còn có sự thay đổi về nội hàm của khái niệm. Điều đó được thể hiện rõ nét qua quy định trong các văn bản của Liên hợp quốc từ xưa cho đến nay.
Theo Tuyên ngôn về quyền của NKT năm 1975 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc thì thuật ngữ người tan tat (handicapped) là bat cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần, những sự cần thiết của một số cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh về những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ. Quy tắc tiêu chuẩn về bình dang cơ hội cho 8 NKT do Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/12/1993, thuật ngữ “khuyết tật” có nghĩa là mất hay hạn chế cơ hội tham gia vào cuộc sống cộng đồng ở mức độ bình dang với những người khác. Nó miêu tả sự đối mặt giữa NKT và môi trường. Mục đích của thuật ngữ này là nhấn mạnh vào những thiếu sót của môi trường và của nhiều hoạt động có tổ chức của xã hội, ví dụ như, thông tin, liên lạc và giáo dục, ngăn cản NKT tham gia một cách bình đẳng.