CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở mức độ nghiên cứu khái quát, đã có nhiều công trình nghiên cứu có uy tín liên quan đến quyền được thông tin, quyền tự do thông tin. Các công trình có giá trị trong việc cung cấp một cách nhìn tổng quan về QĐTT từ góc độ pháp luật quốc tế với các nội dung như khái niệm về QĐTT, về quyền tự do thông tin của các quốc gia, vai trò của quyền tự do thông tin trong mối quan hệ với các quyền khác của con người đã được quy định trong các điều ước quốc tế như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do xuất bản, quyền riêng tư; so sánh các quy định pháp luật về vấn đề này giữa các quốc gia; làm nổi bật vai trò, ý nghĩa của nó trong việc phòng chống tham nhũng, xây dựng nhà nước pháp quyền và đảm bảo thực hiện các quyền công dân và quyền con người; và đưa ra được luật mẫu về quyền tự do thông tin. Về quyền được thông tin có các công trình sau: (1) Public Access to Government – held information (Tiếp cận Thông tin của các Cơ quan nhà nước) của Noeman Marsh, Q.
Cuốn sách này đề cập đến quyền tiếp cận thông tin do chính phủ quản lý tại Thụy Điển, trong đó có so sánh với một số quy định của các nước khác. Cuốn sách đề cập đến vai trò của QĐTT trong việc chống tham nhũng ở Ấn Độ. Đây là cuốn sách về phân tích so sánh QĐTT ở các nước trong Cộng đồng chung Châu Âu. Cuốn sách đề cập đến QĐTT của các nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
(5) Access to information: An instrusmental right for empowerment (2007), Artical 19, cuốn sách này đề cập đến vai trò của QĐTT như là một quyền thực hiện các quyền khác. Những tác phẩm này rất có giá trị trong việc cung cấp một cách nhìn về QĐTT từ góc độ pháp luật quốc tế về quyền con người, về quyền được thông tin ở Châu Âu 6 và các nước thành viên, các nước ở Đông Nam Á. Tuy nhiên các công trình này vẫn chưa phân tích cơ sở lý luận của QĐTT như đặc trưng của thông tin do nhà nước đang quản lý, nội hàm QĐTT tin bao gồm quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin, chưa đề cập mối quan hệ giữa QĐTT và quyền tự do thông tin, đặc điểm của quyền được thông tin, giới hạn của QĐTT. Về quyền tự do thông tin có các công trình nghiên cứu sau: (1) Freedom of Information: The Law, the Practice and the Ideal (Tự do Thông tin: Pháp luật, Thực tiễn và Ý tưởng) của Patrick Birkinshaw (1996, 2010).
Cuốn sách này phân tích chi tiết pháp luật tự do thông tin của nước Anh và những quy định pháp luật về dữ liệu cá nhân, lịch sử phát triển của bí mật quốc gia, an ninh quốc gia và bối cảnh hiện tại. (2) Blackstone’s Guide to the Freedom of Information Act (Bình luận của Blackston về Đạo luật Tự do Thông tin) của John Wadham, Jonathan Griffiths và Kelly Marris (2002), là cuốn sách hướng dẫn ngắn gọn tổng quan kết hợp với bình luận và phân tích về ảnh hưởng của pháp luật của Luật Tự do thông tin 2000 của nước Anh, nhất là áp dụng nghĩa vụ công bố và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước. (3) Freedom of Information: A Comparative Legal Survey, (Tự do Thông tin: Một khảo sát so sánh pháp lý), Toby Mendel UNESCO, 2003. Cuốn sách này cung cấp những nghiên cứu so sánh về tự do thông tin ở các quốc gia trên thế giới có luật hoặc có quy định về quyền tự do thông tin.
(4) The Law of Freedom of Information (Luật Tự do Thông tin) của John MacDonald, Clive H. Jones (2003), Nhà xuất bản Oxford University Press. Cuốn sách phân tích và giải thích về các vấn đề liên quan đến Luật Tự do thông tin năm 2000, Quy định về môi trường năm 2004, và Đạo luật bảo vệ dữ liệu năm 1998 của nước Anh. Cuốn sách phân tích vấn đề tự do thông tin trong bối cảnh bảo vệ quyền riêng tư và các quyền cơ bản con người.
Cuốn sách đề cập đến quá trình ban hành Đạo luật Tự do thông tin 2000 của nước Anh và cuộc cách mạng tiếp cận thông tin và công khai thông tin cơ quan công quyền, đặc biệt là thông qua các quyết định của Ủy viên Thông tin, của Tòa án. (6) Bài báo Freedom of Information and Openness: Fundamental Human Right? (Tự do thông tin và công khai - Quyền Cơ bản của Con người?) của Patrick Birkinshaw (tạp chí Administrative Law Review, 2006)4 trình bày và phân tích sâu các quan điểm đa chiều của giới luật học về ưu điểm cũng như hạn chế của pháp luật về quyền tự do thông tin của một số quốc gia trên thế giới.2307/40712007?uid=3739320&uid=2129&uid=2&uid=70&uid=4&sid=21102 625140031 (Truy cập ngày 18.2012) 7 Những công trình này có giá trị tham khảo với đề tài vì quyền tự do thông tin bao gồm quyền tìm kiếm thông tin, quyền tiếp nhận thông tin, quyền phổ biến thông tin, còn QĐTT bao gồm quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, những công trình trên xác định quyền tự do thông tin với nội hàm rất rộng, và thông tin được tiếp cận không chỉ do nhà nước đang quản lý mà bao gồm cả thông tin do cá nhân, các tổ chức tư nhân nắm giữ. Về mối quan hệ giữa quyền được thông tin với các quyền tự do khác được thể hiện ở các công trình sau: (1) Freedom of Information Around the World 2006 - A Global Survey of Access to Government Information Laws, (Tự do thông tin trên thế giới năm 2006 – Một Nghiên cứu toàn cầu về các Luật Tiếp cận thông tin chính phủ) của David Banisar, Privacy International, 2006.
Cuốn sách này cung cấp những nghiên cứu so sánh về pháp luật về quyền được thông tin công ở các quốc gia trên thế giới. (2) Secrecy and Liberty: National Security, Freedom of Expression and Access to Information (1999), (Bí mật và tự do: An ninh quốc gia, Tự do biểu hiện và Tiếp cận thông tin) của tập thể tác giả F.D’Souza, Sandra Coliver, Paul Hoffiman, Stephen Bowen, Joan Fitzpatrick. Cuốn sách này nói lên mối quan hệ đa chiều giữa an ninh quốc gia và tự do thông tin, tự do ngôn luận và thông tin vì nếu không có an ninh quốc gia, quyền cơ bản của con người luôn luôn có nguy cơ bị xâm phạm. Nhưng nếu đề cao an ninh quốc gia thì quyền tự do thông tin cũng bị hạn chế.
Một sự cân bằng thích hợp giữa bí mật quốc gia và tự do thông tin đòi hỏi phải có một nền báo chí cảnh giác và tư pháp độc lập. Ở mức độ chuyên sâu hơn nữa trong lĩnh vực này có một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí luật học nước ngoài. Nội dung và các khía cạnh khác nhau của QĐTT được đề cập ở các hình thức nghiên cứu rất đa dạng và phong phú như bài viết Balancing Access to Government - Controlled Information5 (2006) (Cân bằng Tiếp cận thông tin do Chính phủ kiểm soát) của Alan B. Morrison, trình bày về vấn đề cân bằng trong QĐTT do nhà nước đang kiểm soát, trong đó nhấn mạnh sự cân bằng giữa QĐTT, quyền riêng tư và bảo vệ bí mật nhà nước.
Giải quyết mối quan hệ này cần trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và Quốc hội là cơ quan quyết định. Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ cũng đã xuất bản những tài liệu, hoặc sổ tay về QĐTT như: An Introduction to Openness and Access to Information (Giới thiệu về Công khai và tiếp cận thông tin) của Viện nghiên cứu nhân quyền Đan Mạch (2005) hay Access to Information, Practical Guidance Note (Hướng dẫn thực hiện tiếp cận 5 www.edu/IntellectualLife/Health%20Science%20Policy%20Center/Science4Judges/~/media/CF17B3 0AF4234ECDB55030EF8584CA3D.ashx (Truy cập ngày 20.2012) 8 thông tin) của UNDP năm 2004. Các tài liệu này với cách thức dễ hiểu và nội dung tóm lược nhằm mục đích tuyên truyền QĐTT. Có thể nói, các tài liệu nghiên cứu về QĐTT trên thế giới rất đa dạng về hình thức nghiên cứu và có nội dung phong phú.
Đó là những nguồn tài liệu cung cấp kiến thức lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn cho các nước đang đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai và hoàn thiện QĐTT như Việt Nam, tuy nhiên, chưa có tài liệu nào nghiên cứu đầy đủ về khái niệm, đặc điểm thông tin nhà nước quản lý và QĐTT của công dân, cơ chế đảm bảo QĐTT, về mối quan hệ giữa quyền tự do thông tin với QĐTT.2 Tình hình nghiên cứu trong nước QĐTT của công dân ở Việt Nam là đề tài có tính bao quát cao và có thể được nghiên cứu bởi nhiều cách tiếp cận khác nhau. Đây là một đề tài không mới nhưng khá nhạy cảm, vì vậy đến nay chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu về QĐTT của công dân đã được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp trong các cuộc hội thảo, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong những năm gần đây. Có thể sắp xếp nhóm các công trình nghiên cứu có đề cập đến QĐTT của công dân đã được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua như sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu lý luận đã được công bố liên quan đến quyền được thông tin của công dân bao gồm: Các bài viết của các tác giả: Đào Trí Úc (2011), Tự do thông tin trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4; Trần Ngọc Đường, 2008, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với quyền được tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 01 (112+114), Vũ Văn Nhiêm (2010), QĐTT từ góc độ bảo đảm quyền con người và liên hệ với dự luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam (Nghiên cứu lập pháp số 9 (170); Nguyễn Công Hồng và Hoàng Thị Ngân (2010), Nhà nước pháp quyền và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề, Lê Thị Hồng Nhung (2011), “Quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (5) đã đề cập đến cơ sở lý luận của QĐTT.
Tất cả những bài này, ở những khía cạnh và cấp độ khác nhau, đều phân tích những tiền đề lý luận chung về pháp luật và thực tiễn QĐTT, về nhà nước pháp quyền, và vai trò, ý nghĩa của QĐTT trong một xã hội ngày nay.