Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1. Khái quát chung về văn bản quản lý nhà nước 1. Khái niệm văn bản Văn bản là hoạt động giao tiếp của nhân loại được thực hiện chủ yếu bằng ngôn ngữ. Phương tiện giao tiếp này được thực hiện ngay từ buổi đầu của xã hội loài người.
Với sự ra đời của chữ viết, con người đã thưc hiện được những không gian cách biệt qua nhiều thế hệ. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn được thực hiện qua quá trình phát và nhận các ngôn bản. Văn bản là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Vì thế có rất nhiều cách tiếp cận, nhiều quan điểm khác nhau về văn bản.
- Quan niệm 1: “Văn bản là một loại tài liệu được hình thành trong các hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”; - Quan niệm 2: Quan niệm của các nhà ngôn ngữ: “Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, có tính nhất quán về chủ đề, trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ”; - Quan niệm 3: Quan niệm theo nghĩa rộng của các nhà nghiên cứu hành chính: “Văn bản là phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin bằng một ngôn ngữ hay một ký hiệu ngôn ngữ nhất định”. Theo nghĩa rộng, “Văn bản là bản viết, bản in, mang nội dung là những gì cần được lưu lại để làm bằng chứng’’. Theo các nhà nghiên cứu khoa học về xử lý và lưu giữ thông tin thì văn bản là vật ghi lại thông tin, có thể lưu giữ theo thời gian. Với quan điểm này chúng ta có thể hiểu rằng một bia đá, một bức hoành phi ở đình, chùa, một biển báo tín hiệu giao thông, một chúc thư, một tác phẩm văn học, một công trình khoa học, công văn, giấy tờ, một khẩu hiệu, băng ghi âm, ghi hình đều được gọi là văn bản.
Theo nghĩa hẹp, văn bản được hiểu là các công văn, giấy tờ, hồ sơ, tài liệu…được hình thành trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế. Do đó, các loại tài liệu, giấy tờ được dùng trong quá trình quản lý của các cơ quan, tổ chức như công văn, tờ trình, thông báo, báo cáo, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư… đều được gọi là văn bản. 5 e Giáo trình môn “Kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản” của Học viện Hành chính Quốc gia có đưa ra khái niệm về văn bản như sau: Văn bản là phương tiện ghi lại và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ hay ký hiệu nhất định. Đây là khái niệm được dùng rất phổ biến trong nghiên cứu văn bản quản lý nhà nước.
Khái niệm văn bản quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, thể hiện rõ quyền lực của Nhà nước, Nhà nước dùng pháp luật để điều chỉnh các hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực hiện việc quản lý này đều do các cơ quan trong bộ máy nhà nước đảm nhiệm (bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Việc quản lý nhà nước nhằm thỏa mãn những nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Khái niệm văn bản quản lý nhà nước được hiểu như sau: Văn bản quản lý nhà nước (VBQLNN) là những thông tin quản lý thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội bộ của Nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân.
Văn bản quản lý hành chính nhà nước (VBQLHCNN) là một bộ phận của văn bản QLNN, bao gồm những văn bản của các cơ quan nhà nước (mà chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước) dùng để đưa ra các quyết định và chuyển tải các thông tin quản lý trong hoạt động chấp hành và điều hành. Các văn bản đặc thù thuộc thẩm quyền lập pháp (văn bản luật, văn bản dưới luật mang tính chất luật) hoặc thuộc thẩm quyền tư pháp (bản án, cáo trạng,.) không phải là văn bản QLHCNN. Đặc điểm của văn bản quản lý nhà nước - Chủ thể ban hành là do các cơ quan nhà nước, tập thể hoặc cá nhân (người ở vị trí lãnh đạo thay mặt cho Nhà nước hay cá nhân được Nhà nước giao quyền). - Thẩm quyền ban hành của văn bản quản lý nhà nước theo Luật định hoặc theo quy chế hoạt động của cơ quan.
- Trình tự, thủ tục, thể thức do pháp luật quy định. - Tính chất áp dụng mang tính công quyền và được nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau. Phân loại văn bản quản lý nhà nước Các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại văn bản quản lý nhà nước. - Phân loại theo tác giả (chủ thể ban hành) - Phân loại theo tên loại - Phân loại theo mục đích ban hành - Phân loại theo thời gian hoặc địa điểm ban hành - Phân loại theo lĩnh vực hoạt động chuyên môn - Phân loại theo hướng chu chuyển của văn bản - Phân loại theo tính chất cơ mật và phạm vi áp dụng của văn bản - Phân loại theo kỹ thuật chế tác - Phân loại theo tính chất và hiệu lực pháp lý… 1.
Các yêu cầu về kỹ thuật soạn thảo VBQLNN Văn bản quản lý Nhà nước dưới các hình thức khác nhau và mức độ khác nhau có giá trị truyền đạt các thông tin quản lý, phản ánh và thể hiện quyền lực Nhà nước. Vì vậy, các cơ quan nhà nước phải lưu ý ban hành các văn bản có chất lượng để hoạt động quản lí nhà nước được vận hành tốt hơn. Đối với các văn bản quản lí nhà nước phải đáp ứng tốt các yêu cầu trong quá trình soạn thảo. Các yêu cầu đó bao gồm: Thứ nhất, Yêu cầu về nội dung: Văn bản khi được sọan thảo và ban hành phải đáp ứng được một số nội dung cơ bản sau: Một là, Tính mục đích của văn bản Trong quá trình chuẩn bị xây dựng dự thảo, người soạn thảo cần xác định rõ chủ đề, mục tiêu của văn bản và trả lời được câu hỏi: văn bản này ban hành để làm gì; giải quyết công việc gì; văn bản ban hành dưới hình thức nào; kết quả của việc thực hiện văn bản là gì.
- Phạm vi điều chỉnh của văn bản cần phải làm rõ: mức độ giải quyết của văn bản đến đâu, văn bản hướng tới đối tượng nào, nội dung văn bản phải thiết thực, đáp ứng các nhu cầu thực tế đặt ra. - Tính phục vụ chính trị, văn bản phải phù hợp và thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách cấp ủy Đảng, nghị quyết của các cơ quan quyền 7 e lực cùng cấp và các văn bản của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên, áp dụng vào giải quyết những công việc cụ thể ở một ngành, một cấp nhất định. Hai là, Tính công quyền - Văn bản phản ánh và thể hiện quyền lực nhà nước ở các mức độ khác nhau, đảm bảo cơ sở pháp lý để nhà nước giữ vững quyền lực của mình, truyền đạt ý chí của cơ quan nhà nước tới nhân dân và các chủ thể pháp luật khác; - Tính cưỡng chế, bắt buộc thực hiện ở những mức độ khác nhau của văn bản, tức là văn bản thể hiện quyền lực nhà nước; - Nội dung của văn bản QPPL phải được trình bày dưới dạng các các QPPL: giả định - quy định; giả định - chế tài; - Để đảm bảo có tính công quyền, văn bản phải có nội dung hợp pháp, được ban hành theo đúng hình thức và trình tự do pháp luật quy định. Ba là, Tính khoa học của văn bản Một văn bản có tính khoa học phải bảo đảm: - Một văn bản có nội dung trình bày khoa học là một văn bản có kết cấu phù hợp, nhất quán về chủ đề, không có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các ý.
Hệ thống các ý được trình bày khoa học, không trùng lặp để tạo thuận lợi cho người tiếp nhận và triển khai các thông tin có trong văn bản. - Các quy định đưa ra phải có cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội, dựa trên thành tựu phát triển của khoa học - kỹ thuật; - Có đủ lượng thông tin quy phạm và thông tin thực tế cần thiết; - Các thông tin được sử dụng để đưa vào văn bản phải được xử lý và đảm bảo chính xác, cụ thể; - Bảo đảm sự logic về nội dung, sự nhất quán về chủ đề, bố cục chặt chẽ; - Sử dụng tốt ngôn ngữ hành chính - công cụ chuẩn mực; - Đảm bảo tính hệ thống (tính thống nhất) của văn bản. Nội dung của văn bản phải là một bộ phận cấu thành hữu cơ của hệ thống văn bản quản lý nhà nước nói chung, không có sự trùng lặp, mâu thuẫn, chồng chéo trong một văn bản và hệ thống văn bản; - Nội dung của văn bản phải có tính dự báo cao; - Nội dung cần được hướng tới quốc tế hóa ở mức độ thích hợp. 8 e - Thông tin trong văn bản đầy đủ, cụ thể, chính xác, có tính dự báo.
Bốn là, Tính đại chúng của văn bản Đối tượng chịu tác động của văn bản là các tầng lớp nhân dân trình độ học vấn khác nhau. Vì vậy, văn bản phải có nội dung dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ dân trí, song vẫn đảm bảo tính nghiêm túc, chặt chẽ và khoa học. Tính phổ thông đại chúng của văn bản cũng thể hiện qua việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ giúp cho nhân dân nắm bắt chính xác tinh thần nội dung văn bản để nghiêm túc thực hiện. Năm là, Tính khả thi của văn bản Tính khả thi của văn bản là kết hợp đúng đắn và hợp lý các yêu cầu về tính mục đích, tính khoa học, tính đại chúng và tính công quyền.