Khóa luận khảo sát quy trình chế biến mực ống IQF - Công ty Thanh An

Khóa luận nghiên cứu quy trình chế biến mực ống IQF tại công ty Thanh An. Phân tích định mức chế biến, kiểm soát nhiệt độ và công nghệ bảo quản lạnh đông thủy sản hiện đại.

Chuyên ngành

Chế Biến Thủy Sản

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2007

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách chế biến mực ống IQF tại Thanh An đạt chuẩn xuất khẩu

Quy trình chế biến mực ống đông lạnh tại nhà máy chế biến mực Thanh An tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là yêu cầu từ thị trường EU và Nhật Bản. Mực ống (Loligo edulis) được thu mua từ Long Hải (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Kiên Giang, vận chuyển bằng xe bảo ôn trong thùng cách nhiệt có đá muối 2%. Tại công ty, nguyên liệu trải qua các khâu tiếp nhận, sơ chế, phân cỡ, cấp đông nhanh (IQF), mạ băng và đóng gói. Toàn bộ quy trình được giám sát bởi đội ngũ KCS theo hệ thống HACCP và ISO. Nhờ công nghệ IQF trong chế biến hải sản, sản phẩm giữ được độ tươi, cấu trúc thịt săn chắc và màu sắc tự nhiên. Đặc biệt, mực ống IQF Thanh An không sử dụng hóa chất cấm như urê hay hàn the, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến mực. Theo luận văn tốt nghiệp của Phạm Lê Thị Lan Phương (Đại học Nông Lâm TP.HCM, 2007), nhiệt độ nguyên liệu khi tiếp nhận trung bình là 4,24°C – gần sát giới hạn cho phép (<4°C). Điều này cho thấy sự kiểm soát chặt chẽ ngay từ đầu chuỗi, góp phần duy trì chất lượng thành phẩm và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu mực ống IQF.

1.1. Nguồn nguyên liệu và tiêu chí tiếp nhận mực ống

Nguyên liệu mực ống đông lạnh được lựa chọn kỹ lưỡng từ các đại lý uy tín, cam kết không dùng kháng sinh cấm. Yêu cầu cảm quan: da sáng, cơ thịt đàn hồi, không dập nát, không mùi lạ. Nhiệt độ nguyên liệu khi về xưởng phải dưới 4°C để hạn chế vi sinh vật phát triển.

1.2. Vai trò của hệ thống kiểm soát chất lượng HACCP

Công ty áp dụng chương trình HACCP để xác định và kiểm soát các mối nguy sinh học, hóa học và vật lý. Mỗi công đoạn đều có KCS giám sát, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến mực và tuân thủ quy định xuất khẩu.

II. Thách thức trong quy trình chế biến mực ống IQF hiện nay

Dù đã đạt nhiều tiêu chuẩn quốc tế, quy trình chế biến mực ống IQF tại Thanh An vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề nổi bật là xử lý mực tươi trước khi IQF chưa đồng đều do thiếu nhân lực và phụ thuộc vào kinh nghiệm công nhân. Nhiều trường hợp mực bị rơi xuống sàn rồi nhặt lên tiếp tục chế biến mà không rửa lại bằng nước chlorine, làm tăng nguy cơ nhiễm chéo vi sinh. Ngoài ra, nhiệt độ nước rửa 2 được ghi nhận ở mức 8,85°C – cao hơn yêu cầu (<7°C) – do công nhân quên bổ sung đá và thời gian chờ xử lý kéo dài. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguyên liệu và hiệu quả diệt khuẩn. Bên cạnh đó, việc phân cỡ mực chủ yếu dựa vào cảm quan dễ dẫn đến sai lệch, gây lẫn cỡ trong thành phẩm. Một rủi ro khác là khả năng lẫn dị vật kim loại từ khâu xếp khuôn (dùng miếng định hình kim loại) nhưng nhà máy chưa trang bị máy dò kim loại – một điểm kiểm soát tới hạn (CCP) cần thiết. Những hạn chế này không chỉ làm giảm giá trị thẩm mỹ mà còn đe dọa tiêu chuẩn xuất khẩu mực ống IQF, đặc biệt với thị trường EU và Nhật Bản vốn rất khắt khe về an toàn thực phẩm.

2.1. Vấn đề nhiệt độ không đạt chuẩn ở khâu rửa 2

Nhiệt độ nước rửa 2 trung bình 8,85°C vượt quá giới hạn cho phép (<7°C), làm giảm hiệu quả ức chế vi sinh vật và ảnh hưởng đến độ tươi của mực. Nguyên nhân chính là thiếu đá và thời gian chờ xử lý kéo dài sau sơ chế.

2.2. Nguy cơ nhiễm chéo và thiếu thiết bị kiểm soát dị vật

Mực rơi vãi trên sàn, công nhân không mang đủ găng tay, và việc dùng miếng kim loại định hình mà không có máy dò kim loại tạo rủi ro cao về vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến mực.

III. Phương pháp xử lý mực tươi trước khi IQF hiệu quả

Xử lý mực tươi trước khi IQF là bước then chốt quyết định chất lượng cuối cùng của sản phẩm. Tại Thanh An, mực ống trải qua hai lần rửa: lần đầu trong bồn chứa 800 dm³ có pha chlorine (300g), muối (3kg) và đá, duy trì nhiệt độ -0,68°C – đạt yêu cầu. Lần hai, mực được nhúng qua ba bồn nước có nồng độ chlorine giảm dần (25 → 15 → 10 ppm) để diệt khuẩn triệt để. Khâu sơ chế chỉ loại bỏ túi mực, giữ nguyên hình dáng con mực. Công nhân phải thao tác nhẹ nhàng, tránh vỡ túi mực gây nhiễm đen. Nước rửa được thay thường xuyên (2–3 lần/rổ) và luôn có đá để giữ nhiệt độ ổn định. Sau sơ chế, mực được phân cỡ thành ba nhóm: 16–20 cm, 21–25 cm và 26–30 cm – căn cứ theo đơn đặt hàng. Việc xử lý mực tươi trước khi IQF đúng cách giúp giảm hao hụt, giữ màu sắc sáng và ngăn ngừa hư hỏng sớm. Theo khảo sát, định mức sơ chế dao động từ 1,014 (cỡ lớn) đến 1,032 (cỡ nhỏ), cho thấy cỡ càng nhỏ thì hao hụt càng cao do khó thao tác và tỷ lệ nội tạng lớn hơn.

3.1. Quy trình rửa và khử khuẩn mực ống

Hai lần rửa với chlorine và đá lạnh giúp loại bỏ tạp chất, đất cát và giảm tải vi sinh. Nhiệt độ nước rửa 1 đạt -0,68°C – phù hợp tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cần cải thiện khâu rửa 2 để đảm bảo nhiệt độ <7°C.

3.2. Tác động của cỡ mực đến định mức sơ chế

Cỡ mực nhỏ (16–20 cm) có định mức sơ chế cao nhất (1,032) do hao hụt nhiều khi loại bỏ túi mực. Cỡ lớn (26–30 cm) chỉ hao hụt 1,4%, cho thấy lợi thế về hiệu quả chế biến.

IV. Bí quyết cấp đông nhanh mực ống bằng công nghệ IQF

Quy trình đông lạnh nhanh mực ống (IQF) tại Thanh An sử dụng tủ đông tiếp xúc dạng nằm ngang, công suất 14.125 HP, nhiệt độ buồng đông -35°C đến -40°C. Thời gian cấp đông từ 3–3,5 giờ để tâm sản phẩm đạt -18°C – mức nhiệt tối ưu để bảo quản mực ống bằng IQF lâu dài. Trước khi đông, mực được nhồi đá vào bụng để tạo độ căng tròn, đẹp mắt sau khi đông. Mức tăng trọng trung bình từ 12% đến 22,2%, tùy cỡ – cỡ càng lớn thì tăng trọng càng cao do khoang bụng rộng. Sau cấp đông, mực được mạ băng bằng nước lạnh (3,44°C) để tạo lớp áo bảo vệ, chống cháy lạnh và mất nước. Công nghệ IQF trong chế biến hải sản giúp hình thành tinh thể đá nhỏ, không phá vỡ cấu trúc tế bào, giữ nguyên hương vị và giá trị dinh dưỡng. So với đông block, IQF cho phép tách rời từng con mực dễ dàng, thuận tiện cho người tiêu dùng. Kết quả khảo sát cho thấy thời gian bảo quản mực IQF có thể kéo dài tới 24 tháng ở -18°C mà không suy giảm chất lượng đáng kể.

4.1. Tác dụng của nhồi đá và định hình mực trước đông

Nhồi đá giúp thân mực căng tròn, không xẹp méo sau đông. Dùng miếng kim loại định hình kết hợp dây thun cố định tạo hình dáng đồng đều, nâng cao giá trị thẩm mỹ của mực ống IQF Thanh An.

4.2. Thông số kỹ thuật cấp đông và mạ băng

Nhiệt độ tâm sản phẩm đạt -18°C sau 3–3,5 giờ. Nước mạ băng ở 3,44°C – đạt chuẩn – giúp tạo lớp băng mỏng, bóng láng, bảo vệ sản phẩm khỏi oxy hóa và mất nước trong thời gian bảo quản mực IQF.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả đạt được từ quy trình IQF

Ứng dụng quy trình đông lạnh nhanh mực ống tại Thanh An đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Sản phẩm mực ống IQF Thanh An hiện được xuất khẩu chủ yếu sang Italia, Tây Ban Nha và Hàn Quốc, với trọng lượng tịnh 6,5 kg/thùng và ba cỡ rõ ràng. Định mức chế biến dao động từ 1,04 (cỡ 26–30) đến 1,08 (cỡ 16–20), phản ánh hiệu quả sử dụng nguyên liệu cao. Mức tăng trọng 12–22,2% từ khâu nhồi đá không chỉ cải thiện ngoại hình mà còn hỗ trợ làm lạnh nhanh hơn. Về an toàn, công ty đã vượt qua các rào cản kỹ thuật của EU nhờ kiểm soát tốt dư lượng kháng sinh và vi sinh. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại như nhiệt độ rửa 2 cao, thiếu máy dò kim loại. Dù vậy, việc tuân thủ HACCP và ISO đã giúp Thanh An duy trì thị phần ổn định. Theo báo cáo năm 2007, công ty nằm trong số 245 doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đạt chuẩn xuất khẩu vào EU – minh chứng cho hiệu quả của quy trình IQF được áp dụng bài bản.

5.1. Hiệu quả kinh tế qua định mức chế biến theo cỡ

Định mức chế biến thấp nhất ở cỡ lớn (1,04) cho thấy lợi nhuận cao hơn do hao hụt ít. Ngược lại, cỡ nhỏ (1,08) tốn nhiều nguyên liệu hơn cho cùng khối lượng thành phẩm.

5.2. Thành công trong xuất khẩu nhờ kiểm soát chất lượng

Sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu mực ống IQF nhờ kiểm soát tốt từ nguyên liệu đến thành phẩm, đặc biệt là cam kết không dùng kháng sinh cấm – yếu tố then chốt để vào thị trường EU và Nhật.

VI. Tương lai của quy trình chế biến mực ống IQF tại Thanh An

Tương lai của quy trình chế biến mực ống IQF tại Thanh An phụ thuộc vào việc khắc phục các điểm yếu hiện tại và mở rộng thị trường. Trước mắt, công ty cần trang bị máy dò kim loại, đào tạo lại công nhân để giảm sai sót trong phân cỡ và xử lý nguyên liệu. Đồng thời, nên nghiên cứu tự động hóa khâu nhồi đá và xếp khuôn để giảm phụ thuộc vào tay nghề. Về thị trường, ngoài EU và châu Á, Thanh An có thể nhắm đến thị trường nội địa đang gia tăng nhu cầu hải sản đông lạnh chất lượng cao. Ngoài ra, việc tối ưu thời gian bảo quản mực IQF thông qua cải tiến bao bì hút chân không hoặc điều chỉnh độ dày lớp mạ băng cũng là hướng đi tiềm năng. Cuối cùng, mở rộng vùng nguyên liệu và ký hợp đồng trực tiếp với ngư dân sẽ giúp kiểm soát tốt hơn chất lượng đầu vào, giảm chi phí vận chuyển và đảm bảo nguồn cung ổn định – yếu tố sống còn để nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành chế biến mực ống đông lạnh toàn cầu.

6.1. Đề xuất cải tiến kỹ thuật và trang thiết bị

Lắp máy dò kim loại, tự động hóa khâu nhồi đá, và cải thiện hệ thống làm lạnh ở khâu rửa 2 là những ưu tiên hàng đầu để nâng cao vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến mực.

6.2. Chiến lược mở rộng thị trường và nguồn nguyên liệu

Bên cạnh xuất khẩu, nên phát triển sản phẩm cho thị trường nội địa. Đồng thời, liên kết trực tiếp với ngư dân để kiểm soát chất lượng và giảm chi phí – giải pháp bền vững cho nhà máy chế biến mực Thanh An.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt Vấn Đề Hiện nay thủy sản đang từng bước trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế nước ta. Sản phẩm thủy sản có giá trị kinh tế Cao Và ngày cảng được con người chú trọng đến bởi thủy sản được đánh giá là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Khi chất lượng cuộc sống con người càng được nâng cao, vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm càng được chú trọng. Hiểu rõ điều này, các công ty chế biến thực phẩm phải, tuân thủ đúng quy định của các chương trình quản lý chất lượng, đảm bảo các qui tắc về vệ sinh và an toàn cho người tiêu dùng.

Sản phẩm thủy sản Việt Nam không chỉ thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khâu sang nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các thị trường khó tính như Nhật, EU, Mỹ.Do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải cải tiến, nâng cao chất lượng sản phâm của mình để hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào thị trường trong khu vực và thế giới. về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thì ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, chất lượng và quy cách chế biến dé đáp ứng nhu cầu ngay càng cao của khách hàng. Trong số các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam, mực là mặt hàng rất được ưa chuộng. Ngoài sản phẩm mực khô truyền thống, ngày nay mực được chế biến thành nhiều dạng sản phẩm khác nhau: mực đông lạnh, mực lột da, mực Shashimi, mực trái thông, mực cắt khoanh, mực khô tam gia vi.

San pham mực đông lạnh luôn chiếm ti trọng không ít hon 10 % trong tổng sản lượng các mặt hàng đông lạnh. Được sự cho phép của khoa Thủy Sản trường Đại Học Nong Lâm Thành phố Hồ Chí Minh với sự hướng dẫn của cô giáo | - Th. Nguyễn Thùy Linh, tôi tiễn hành thực hiện đề tài: “Khảo sát quy trình chế biến mực ống IQF tại công ty chế biên thủy sản Thanh An”.2 Mục Tiêu Đề Tài -Khảo sát qui trình chế biến mực ống IQF tại công ty và đưa ra những nhận xét. -Khảo sát một vài thông sô về các chỉ tiêu của qui trình sản xuât: e Định mức khâu sơ chê nguyên liệu, định mức chê biên sản phâm.

Mức tăng trọng của nguyên liệu ở khâu nhi đá. Nhiệt độ nguyên liệu khâu tiếp nhận. Nhiệt độ nước rửa. Nhiệt độ nước mạ băng.

TONG QUAN TÀI LIEU 2.1 Tinh Hình Thủy Sản Việt Nam Hiện Nay 2.1 Sản lượng nuôi trồng và giá trị kim ngạch 6 tháng đầu năm 2007 Theo Bộ Thủy sản, sáu tháng đầu năm 2007, toàn Ngành vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh về sản lượng nuôi trồng và giá trị kim nghạch thủy sản xuất khẩu. Tính đến hết tháng 6, tổng sản lượng đạt 49,04 % kế hoạch năm và tăng 9,79 % so với cùng kì năm ngoái. Trong đó sản lượng khai thác tăng 3,09 %, sản lượng nuôi trồng tăng 20,63 %. Ước tính giá trị kim ngạch xuất khâu thủy sản 6 tháng đầu năm dat 1.648 triệu USD, bằng 45,78 kế hoạch và tăng 16,78 % so với cùng kì.

Về khai thác hải sản Trong 6 tháng đầu năm thời tiết thuận lợi cho khai thác nhưng giá nhiên liệu tăng cao. Ngư dân chuyển nghề khai thác tiêu hao nhiên liệu ít, tổ chức sản xuất trên biển theo đoàn, đội, lựa chọn đối tượng khai thác và chuyên đổi ngư trường khai thác. Cơ câu nghề và sản pham khai thác có thay đổi rõ nét. Đôi tượng khai thác chủ yêu là các loài cá có giá trị kinh tê như: cá ngừ đại dương, cá cam, cá thu, cá chim.

Đặc biệt cá cơm xuât hiện nhiêu va dai ngày. Nhìn chung, hiệu quả đánh bat của ngư dân trong các tháng dau năm đạt loại khá. Về nuôi trồng thủy sản Các tháng đầu năm nay, xen kẽ đợt nắng nóng là trời trở lạnh. Nuôi tôm vẫn tiếp tục phát riên nhưng công nghệ nuôi tôm có thay đối.

Da số các vùng nuôi tôm vẫn phát triển tốt, tuy nhiên rải rác vẫn còn xảy ra hiện tượng tôm chết. Nguyên nhân tôm chết do việc xử lí ao trước khi thả tôm giống chưa tốt, tôm không kiểm dịch, chất lượng kém. Cá tra, ba sa nuôi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tiếp tục tăng trưởng nóng về sản lượng và giá trị những tháng đầu năm. Việc phát triển nuôi cá tra quá nóng gây thiếu cá giống, đây giá thứcăn, vật tư chuyên dùng tăng và gây nguy cơ đến môi trường nuôi bền vững.

Sản lượng cá tra, basa nuôi 6 tháng đầu năm ước tính đạt 400.000 tấn, bằng 50% so với kế hoạch và tăng 100% so với cùng kì năm 2006. Việc sử dụng hóa chat, kháng sinh cam vẫn chưa được ngăn chặn triệt dé, nhiều vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản đã ảnh hưởng đến tiêu thụ thủy sản trong nước và xuất khẩu. Về sản xuất, lưu thông giỗng Cả nước đã sản xuất được 15 tỷcá giống bột và trên 16 ty tôm giống cung cấp nhu cầu giống thả nuôi. Gia tôm giống còn cao đầu vụ và việc cung cấp giống chất lượng tốt, giá hợp lý đúng mùa vụ vẫn còn là vấn dé.

Thức ăn, thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy san có chiều hướng tăng giá và việc quản lý trong lưu thông, bảo quản, sử dụng còn bất cập, đòi hỏi các cơ quan quản lý từ trung ương đến cơ sở phải đổi mới phương thức quản lý trong tất cả các khâu sản xuất, nhập khẩu, lưu thông, bảo quản, sử dụng dam bảo đáp ứng yêu cầu nuôi trồng thủy sản tạo sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm. Về chế biến , thị trường và tiêu thụ sản phẩm Nguyên liệu chế biến chủ lực vẫn là tôm, cá tra , ba sa. Đầu năm các doanh nghiệp chế biến vẫn bị thiếu nguyên liệu. Giá cá nguyên liệu lúc tăng lúc giảm.

Đối với tôm, tình trạng bơm chích tạp chất, dư lượng kháng sinh, hóa chất giảm nhiều so với cùng kỳ năm ngoái do việc kiểm tra chất lượng nguyên liệu tốt hơn và do thị trường Nhật Bảnáp dụng kiểm tra 100% lô hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam. Năng lực chế biến thủy sản: các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng mới, nâng cap, mở rộng, đôi mới trang thiết bị theo hướng tăng cường chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm chế biến. Trong 6 tháng đầu năm đã có thém18 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường EU, nâng tong số doang nghiệp đạt tiêu chuẩn lên 245 doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc phát triển nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu hiện nay chưa theo quy hoạch.

Xu hướng tự phát trong sản xuất nguyên liệu và xây dựng nhà máy chế biến tiềm ẩn rủi ro cao do mat cân đối cung cầu về nguyên liệu và thị trường xuất khẩu, nguy cơ hủy hoại môi trường các vùng nuôi. Quản lý chất lượng hàng xuất khẩu: hầu hết các lô hàng được kiểm tra chất lượng trước khi hoàn tat thủ tục xuất khâu. Thành tích đáng ghi nhận là trong 6 tháng đầu năm ta đã giữ vững 51 thị trường có rào cản kỹ thuật cao như EU, Hoa Ky, Canada nên tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng nhanh. Tuy nhiên xuất hiện 4 thị trường mới dựng các rào cản kỹ thuật là Nga, Nhật Bản, Australia, Đài Loan.

Khó khăn, ách tắc tại thị trường Nga, Nhật Bản là bài toán khó mà Bộ Thủy san, Hiệp hội chế biến xuất khâu phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại đang tích cực giải quyết. Cơ cấu thị trường về giá trị kim ngạch xuất khâu thủy sản như sau: EU 24.4%, Hoa Kỳ 18,3%, Nhật Bản 17%, Han Quoc 7,4%, Trung Quôc 5,1%, Asean 5,8% và các nước khác 16,7%. Thị trường thực phẩm thủy sản nội địa chuyền biến tích cực cả về số lượng, chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hóa và giá cả. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển khai thác, nuôi trồng thủy sản.

Tuy nhiên, việc cảnh báo vệ sinh an toàn thực phâm các mặt hàng thủy sản nội địa đang là vân đê được công luận quan tâm.2 Kiếm soát dư lượng kháng sinh trong xuất khau thủy sản sang Nhật Van đề xuất khâu thủy sản Việt Nam sang Nhật thực sự trở nên nghiêm trọng bởi ngày 25 / 6 / 2007 Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam đã gửi thư cho Bộ Thủy sản liên quan đến hàng thủy sản Việt Nam vào Nhật liên tục phát hiện có kháng sinh. Ông Trần Thiện Hải - Chủ tịch VASEP cho biết: “ Thay vì kiểm tra trên tan suất, phía Nhật Ban đã tăng cường kiểm tra 100 % các lô hàng của thủy sản Việt Nam”. VASEP đã nhận được cảnh báo nếu Việt Nam không đưa ra giải pháp ngăn chặn triệt dé tình trạng này, Nhật Ban sẽ xem xét ngừng nhập khẩu hàng thủy sản Việt Nam.vn, cập nhật 6 / 7 / 2007) Nhật Bản là thị trường truyền thống và quan trọng của thủy sản Việt Nam.Trong 8 thị trường xuất khâu thủy sản chính của Việt Nam năm 2007, Nhật Bản chiếm 18,2 %, chỉ đứng sau EU (25%) thế nhưng sau hơn 9 tháng nhận lời cảnh báo về dư lượng kháng sinh trong sản phẩm thủy sản, ngành thủy sản vẫn chưa kiên quyết đối với những vi phạm của doanh nghiệp.vn, cập nhật 3/7/ 2007) Theo VASEP, đến cuối tháng 5 / 2007 Việt Nam đã xuất sang Nhật 39.090 tan sản phẩm, trị giá 240 triệu USD. Sáu tháng đầu năm, có khoảng 6.000 lô hang thủy sản Việt Nam sang Nhật, trong đó đã có 94 lô bị phía Nhật cảnh báo, chiếm tỉ lệ 1,6 %.

Nếu phân loại theo kháng sinh bị phát hiện, 94 lô trên cụ thể gồm: CAP (55 lô), AOZ (17 lô), SEM (6 lô), Coliform (7 lô), TPC cao(1 lô), E. Như vậy kháng sinh bị phát hiện nhiều nhất là CAP. Tôm là sản phâm chủ yếu bị phát hiện có dư lượng kháng sinh cấm, tổng số lên tới 54 lô. Các nhóm hang bị nhiễm CAP là tôm PUD, gồm các loại tôm biển cỡ nhỏ, các loại thủy sản có sử dụng tôm biển PUD và các mặt hang từ biển như mực ống, mực nang.

Nguyên nhân nhiễm CAP chủ yếu từ việc bảo quản nguyên liệu trong quá trình khai thác. Các lô nhiễm AOZ có thé từ tom st cỡ nhỏ đã bị nhiễm trong quá trình trị bệnh cho tôm của nông dân tại ao, tôm thẻ chân trắng và tôm sú nhập khẩu, đồng thời không loại trừ khả năng do người nuôi sử dụng AOZ thay thế CAP mà không biết nguồn gốc dé trộn vào thứcăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ