MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài Tính đến ngày 31/12/2016, diện tích rừng toàn quốc hiện có 14.682ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.141ha và rừng trồng là 4. Diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ toàn quốc là 13.934ha, độ che phủ tương ứng là 41,19% (Bộ NN&PTNT, 2017) [1]. Tuy diện tích rừng và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng chất lượng rừng vẫn còn rất thấp.
Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay. Đặc biệt là rừng trồng trong những năm vừa qua năng suất đã nâng lên gần 20m3/ha/năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhu cầu sản xuất của xã hội. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, hiện nay cả nước có hơn 1,4 triệu ha rừng trồng có khả năng cung cấp một lượng gỗ khoảng 30,6 triệu m3. Tuy nhiên, lượng gỗ này chủ yếu chỉ phục vụ cho ngành chế biến giấy và gỗ ván sàn.
Phần lớn gỗ dùng để chế biến các sản phẩm đồ mộc, đặc biệt là đồ mộc gia dụng và đồ mỹ nghệ vẫn phải nhập khẩu. Mặc dù, năm 2016 kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt sấp xỉ 7 tỷ USD tăng 1,1 so với năm 2015. Trong đó sản phẩm gỗ đạt 5,12 tỷ USD tăng 7,1 so với năm 2015, chiếm 73,6 % tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2016. Nhưng chi phí nhập khẩu gỗ nguyên liệu, phụ kiện sử dụng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ đã lên tới trên 1,84 tỷ USD (Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, 2016) [17].
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề ra mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ đến năm 2020 phải đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ). 2 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của kinh ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảng trên 30%/năm. Con số này cho thấy nhu cầu nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh từ nay đến năm 2010 và đến năm 2020. Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên thị trường nội địa cũng được dự báo sẽ liên tục tăng.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng của xã hội, ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọn các loài cây mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Tại tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua công tác trồng rừng đã được các cấp chính quyền và người dân quan tâm nhiều hơn, diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất. Tính đến ngày 31/12/2017 toàn tỉnh có 186.924 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 76.486 ha, rừng trồng 110.438 ha, độ che phủ đạt 46,33% .Sản phẩm khai thác từ rừng gồm: Gỗ 171.089 m3 (Gỗ tự nhiên 3.78 m3, Gỗ rừng trồng 167.423 ste; luồng, vầu, tre 1,736 tiệu cây, nứa 2.974 cây, nhựa thông 4 tấn, lá cọ 1,587 triệu lá. Diện tích trồng rừng mới toàn tỉnh là 7.
Lượng lâm sản này một phần phục vụ cho nhu cầu sử dụng của người dân trong vùng, phần còn lại cung cấp nguyên liệu cho Công ty ván dăm Thái Nguyên và Nhà máy giấy Bãi Bằng. Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy mạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được lựa chọn là cây Keo lai và Keo tai tượng. Mặc dù phần lớn diện tích đất trồng rừng sản xuất là 2 cây trồng trên, nhưng lượng tăng trưởng bình quân rất thấp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về gỗ nguyên liệu.Do đó, cần phải nâng cao được năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng. Để đáp ứng được các yêu cầu trên cần phải lựa chọn giống tốt, điều kiện lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chăm sóc bảo về rừng sau khi trồng để tăng năng suất chất lượng 3 rừng.
Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân - huyện Sông Công Thuộc Công Ty Lâm Nghiệp - tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục tiêu và yêu cầu 1. Mục tiêu Tìm hiểu được quy trình trồng và chăm sóc bảo vệ rừng tại công ty Lâm Nghiệp Thái Nguyên 1. Yêu cầu - Tham gia thực hiện trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng sau khi trồng.
- Thực hiện trình tự các bước cơ bản quy trình về trồng rừng từ xử lý thực bì, làm đất bón phân, chọn loài cây và mật độ trồng rừng, thời vụ, kĩ thuật trồng rừng, trồng dặm. - Các yêu cầu về kĩ thuật chăm sóc bảo vệ rừng sau khi trồng để đạt được năng suất cao nhất. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Việc trồng và chăm sóc rừng là một nghiên cứu khoa học rất quan trọng trong việc đảm bảo năng suất và chất lượng rừng nên các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề như: điều kiện lập địa,các biện pháp kỹ thuật lâm sinh,khả năng tăng trưởng và sản lượng, sâu bệnh. Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng sản xuất ở các nước trên thế giới đã được hoàn thiện, tương đối ổn định và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua. Những nghiên cứu về cây Keo Lai (Acacia mangium xAcacia auriculiformis) Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống Keo lai tự nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972 trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ.
Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia (Lê Đình Khả, 1999) [11]. Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992). Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát 5 hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn (Lê Đình Khả và CS, 1999) [11]. Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988); Gan.E và Sim Boom Liang (1991) các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm.
Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8-9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5-6. Bên cạnh đó là sự phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản. Theo nghiên cứu của Rufeld (1987) [22] thì không tìm thấy một sự sai khác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ. Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật sự.
Tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém hơn Keo tai tượng. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Pinso Cyril và Robert Nasi (1991), thì trong nhiều trường hợp cây Keo lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng. Về ưu thế lai thì có thể có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 02 yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đồng đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng.
Khi đánh giá về các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai, Pinso và Nasi (1991) thấy rằng độ thẳng của thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều 6 của thân,…đều tốt hơn giống bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại. Những kết quả nghiên cứu về điều kiện lập địa Tập hợp các kết quả nghiên cứu trên các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO,1984) đã chỉ ra khả năng sinh trưởng của rừng trồng,đặc biệt là rừng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc vào mấy yếu tố sau: khí hậu,địa hình,loại đất và hiện trạng thực bì. Điển hình là các kết quả nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans (1974) và (1992), Pandey (1983), Golcalves J. và cộng sự (2004).
Theo nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans (1974 và 1992) nghiên cứu đặc điểm ở Châu Phi cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Vì vậy, khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất khác nhau cũng khác nhau. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P.patula ở Swaziland, Evans (1974). Đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ chặt với các yếu tố địa hình và đất đai.
Theo nghiên cứu của Pandey. D (1983) [21] việc khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30m3/ha/năm.