Khóa luận: Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh lợn nái tại Vĩnh Phúc

Khóa luận chi tiết quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại Vũ Hoàng Lân, Tam Dương, Vĩnh Phúc. Nâng cao hiệu

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

64
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản tại Vĩnh Phúc

Lợn nái sinh sản là nền tảng quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thương phẩm. Tại Vĩnh Phúc, các trang trại như Trang trại Vũ Hoàng Lân ở xã An Hòa, huyện Tam Dương đã áp dụng quy trình chăm sóc bài bản từ khâu chọn giống, nuôi dưỡng đến phòng trị bệnh. Quy trình này bao gồm quản lý chu kỳ động dục, phối giống đúng thời điểm, chăm sóc thai kỳ, đỡ đẻ và nuôi con. Đặc điểm sinh lý của lợn nái trải qua chu kỳ tính 19-21 ngày với ba giai đoạn rõ rệt: trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực. Thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày tùy giống. Việc nắm vững các thông số sinh lý giúp người chăn nuôi chủ động trong phối giống và chăm sóc. Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho phát triển chăn nuôi nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dịch bệnh. Do đó, xây dựng quy trình chăm sóc khoa học kết hợp phòng bệnh tổng hợp là yếu tố then chốt để đạt năng suất sinh sản cao, giảm tỷ lệ hao hụt và nâng cao lợi nhuận cho người chăn nuôi.

1.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

Chu kỳ tính của lợn nái diễn ra trong phạm vi 19-21 ngày, được chia thành ba giai đoạn chính. Giai đoạn trước chịu đực, lợn kêu rít, âm hộ xung huyết, thời gian rụng trứng ở lợn ngoại và lai là 35-40 giờ, lợn nội là 25-30 giờ. Giai đoạn chịu đực, lợn kém ăn, đứng yên khi ấn tay lên lưng, nước nhờn chảy ra dính và đục. Giai đoạn sau chịu đực, lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở. Thời điểm phối giống thích hợp nhất là chiều ngày thứ ba và sáng ngày thứ tư tính từ lúc bắt đầu động dục đối với lợn ngoại và lợn lai.

1.2. Điều kiện chăn nuôi lợn nái tại Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt trung bình 23-24 độ C, lượng mưa dồi dào. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn quy mô lớn. Các trang trại trên địa bàn tỉnh đã đầu tư hệ thống chuồng trại đạt chuẩn, khu vực cách ly, khu vực đẻ riêng biệt. Hệ thống cung cấp nước sạch, thức ăn công nghiệp được kiểm soát chất lượng. Tuy nhiên, khí hậu nóng ẩm cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển. Vì vậy, công tác vệ sinh sát trùng và tiêm phòng vaccine phải được thực hiện nghiêm ngặt theo lịch trình cố định để bảo vệ đàn nái sinh sản.

II. Các vấn đề thường gặp trong chăm sóc lợn nái sinh sản

Trong quá trình chăn nuôi lợn nái sinh sản tại Vĩnh Phúc, nhiều vấn đề thường xuyên phát sinh ảnh hưởng đến năng suất. Thứ nhất, lợn đẻ khó là tình trạng phổ biến khi lợn con quá to, ngôi thai bị ngược hoặc nái kiệt sức sau thời gian rặn đẻ kéo dài. Biểu hiện nhận biết bao gồm vỡ nước ối mà nái không rặn, rặn liên tục mà con không ra, mắt đỏ và thở nhanh. Thứ hai, các bệnh truyền nhiễm như LMLM, tai xanh, dịch tả lợn luôn là mối đe dọa lớn. Thứ ba, viêm tử cung sau đẻ xảy ra ở nhiều nái nếu không được vệ sinh và dùng kháng sinh dự phòng đúng cách. Thứ tư, vấn đề dinh dưỡng không cân đối dẫn đến nái quá béo hoặc quá gầy, ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và nuôi con. Ngoài ra, quản lý phối giống sai thời điểm cũng làm giảm tỷ lệ đậu thai, gây lãng phí nguồn giống và thời gian chăm sóc.

2.1. Lợn đẻ khó và kỹ thuật can thiệp

Lợn đẻ khó được xác định qua các dấu hiệu: vỡ nước ối mà nái không rặn, rặn liên tục bụng căng lên, đuôi cong do con đã đến cổ tử cung nhưng không ra được, mắt đỏ do rặn nhiều, nái kiệt sức thở nhanh. Kỹ thuật can thiệp bao gồm vệ sinh âm hộ và mông lợn bằng nước sát trùng, sát trùng tay và bôi gel bôi trơn, sau đó đưa tay vào tử cung nắm lấy lợn con để kéo ra ngoài. Trang trại cần trang bị đầy đủ gang tay cao su, gel bôi trơn và dụng cụ đỡ đẻ chuyên dụng để đảm bảo vệ sinh và an toàn cho cả nái lẫn lợn con.

2.2. Các bệnh thường gặp trên đàn nái và lợn con

Đàn lợn nái sinh sản tại Vĩnh Phúc thường gặp các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như LMLM, tai xanh, dịch tả lợn. Ngoài ra, các bệnh ký sinh trùng, bệnh đường hô hấp và tiêu hóa cũng phổ biến. Lợn con mới đẻ dễ mắc bệnh tiêu chảy trắng, thiếu sắt dẫn đến thiếu máu. Việc chẩn đoán bệnh dựa trên triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm tại phòng thí nghiệm. Điều trị bệnh cần kết hợp dùng thuốc kháng sinh, thuốc bổ trợ và chăm sóc đặc biệt. Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp hiệu quả nhất, cần tuân thủ đúng lịch tiêm và liều lượng quy định.

III. Giải pháp chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản

Giải pháp chăm sóc lợn nái sinh sản tại Vĩnh Phúc cần được triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện. Về dinh dưỡng, khẩu phần ăn phải đảm bảo đủ protein, năng lượng, vitamin và khoáng chất theo từng giai đoạn sinh sản. Nái mang thai cần chế độ ăn khác biệt so với nái nuôi con. Về vệ sinh phòng bệnh, lịch sát trùng chuồng trại được thực hiện định kỳ hàng tuần, kết hợp phun thuốc khử trùng toàn bộ khu vực chăn nuôi. Lịch tiêm phòng vaccine cho nái bao gồm các mũi phòng LMLM, tai xanh, dịch tả và các bệnh khác theo khuyến cáo của cơ quan thú y. Sử dụng oxytocine hỗ trợ đẻ chỉ áp dụng khi nái kiệt sức, rặn kém sau khi đã đẻ được năm đến sáu con. Tiêm kháng sinh dự phòng viêm tử cung cho nái sau đẻ là bắt buộc. Kỹ thuật đỡ đẻ đúng cách giúp giảm tỷ lệ lợn con chết non, nâng cao số con cai sữa mỗi lứa.

3.1. Quy trình vệ sinh sát trùng và tiêm phòng vaccine

Quy trình vệ sinh sát trùng tại trang trại được thực hiện theo lịch cố định. Khu vực chuồng đẻ, chuồng nuôi con được vệ sinh hàng ngày, phun thuốc sát trùng định kỳ mỗi tuần. Dụng cụ chăn nuôi, máng ăn máng uống được rửa sạch và ngâm消毒 sau mỗi lần sử dụng. Lịch tiêm phòng vaccine cho nái bao gồm đầy đủ các loại vaccine phòng bệnh nguy hiểm. Nái hậu bị được tiêm đủ liều cơ bản trước khi phối giống. Nái sinh sản được nhắc lại vaccine theo đúng chu kỳ. Kết quả vệ sinh sát trùng và tiêm phòng được ghi chép cẩn thận để theo dõi và đánh giá hiệu quả.

3.2. Kỹ thuật chăm sóc nái đẻ và nuôi con

Chăm sóc nái đẻ đòi hỏi sự theo dõi liên tục trong giai đoạn chuyển dạ. Chuồng đẻ phải sạch sẽ, khô ráo, có đèn sưởi ấm cho lợn con. Khi nái bắt đầu đẻ, cần can thiệp kịp thời nếu có dấu hiệu đẻ khó. Lợn con mới đẻ được lau khô, cắt rốn sát trùng và cho bú sữa đầu trong vòng một giờ đầu. Sử dụng oxytocine với liều hai mililit cho nái kiệt sức, rặn kém. Nái sau đẻ được tiêm kháng sinh phòng viêm tử cung. Chế độ ăn của nái nuôi con được tăng cường để đảm bảo tiết sữa đủ cho đàn con. Theo dõi sức khỏe nái và lợn con hàng ngày để phát hiện và xử lý bệnh kịp thời.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại Vĩnh Phúc

Quy trình chăm sóc và phòng trị bệnh lợn nái sinh sản tại Vĩnh Phúc đã được xây dựng và áp dụng mang lại hiệu quả thiết thực. Kết quả thực tiễn tại các trang trại cho thấy, khi tuân thủ đúng quy trình, tỷ lệ sống của lợn con sơ sinh tăng đáng kể, số con cai sữa mỗi lứa đạt cao hơn. Công tác vệ sinh sát trùng định kỳ giúp giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Lịch tiêm phòng vaccine đầy đủ tạo miễn dịch chủ động cho đàn nái, bảo vệ cả nái lẫn lợn con. Kỹ thuật can thiệp đẻ khó đúng cách giảm thiểu tổn thất trong quá trình sinh sản. Tuy nhiên, để quy trình đạt hiệu quả tối ưu, người chăn nuôi cần cập nhật kiến thức thường xuyên, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn sinh học.Ứng dụng thực tiễn cho thấy, đầu tư vào chăm sóc phòng bệnh từ đầu luôn mang lại lợi ích kinh tế cao hơn so với chi phí điều trị bệnh phát sinh sau này. Mô hình này có thể nhân rộng tại các địa phương khác trong tỉnh.

4.1. Kết quả đạt được từ quy trình chăm sóc khoa học

Áp dụng quy trình chăm sóc khoa học tại các trang trại ở Vĩnh Phúc đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ lợn nái phối giống đậu thai tăng cao nhờ phối giống đúng thời điểm. Số con đẻ ra mỗi lợn nái ổn định, tỷ lệ con sống sau sinh cải thiện rõ rệt. Công tác vệ sinh sát trùng định kỳ giúp đàn nái khỏe mạnh, ít mắc bệnh truyền nhiễm. Việc tiêm phòng vaccine đầy đủ tạo lá chắn bảo vệ hiệu quả trước các dịch bệnh nguy hiểm. Chi phí điều trị bệnh giảm đáng kể, lợi nhuận từ chăn nuôi tăng trưởng ổn định qua các năm.

4.2. Hướng phát triển và nhân rộng mô hình

Mô hình chăm sóc lợn nái sinh sản tại Vĩnh Phúc cần được nhân rộng ra các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh. Đào tạo tập huấn kỹ thuật cho nông dân về quy trình chăm sóc, phối giống, đỡ đẻ và phòng bệnh là nhiệm vụ cấp thiết. Ứng dụng công nghệ chăn nuôi hiện đại như hệ thống quản lý đàn bằng phần mềm, thiết bị giám sát môi trường chuồng trại sẽ nâng cao hiệu quả quản lý. Hợp tác với các cơ sở nghiên cứu khoa học để cải tiến giống, tối ưu hóa dinh dưỡng và phát triển vaccine phòng bệnh mới. Xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ giúp ổn định đầu ra cho sản phẩm chăn nuôi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Khóa luận thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại vũ hoàng lân tam dương vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong những năm gần đây kinh tế Việt Nam đang phát triển rất mạnh mẽ, chất lượng và nhu cầu cuộc sống tăng lên không ngừng, kéo theo nhu cầu về số lượng và chất lượng thịt cũng tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ, sản phẩm của ngành không ngừng phục vụ nhu cầu trong nước mà còn mở rộng xuất khẩu. Trước đây, năng suất chăn nuôi còn thấp là do người chăn nuôi chỉ quen với tập quán chăn nuôi lợn nội và tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp để nuôi. Hiện nay năng suất chăn nuôi lợn tăng lên gấp nhiều lần là do người chăn nuôi đã biết nuôi lợn ngoại theo phương thức chăn nuôi công nghiệp.

Để lợn ngoại đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì yếu tố đầu tiên cần đảm bảo là có đàn giống tốt. Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái. Theo tính toán của các nhà kinh tế, năng suất của lợn nái đực tính bằng số lợn con sinh ra, số lợn con còn sống đến lúc cai sữa, thời gian tái sản xuất của lợn nái nhất là do không thụ thai. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao cần phải có quy trình chăn nuôi phù hợp với từng giống vật nuôi, từng thời điểm và từng giai đoạn cụ thể khác nhau.

Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y cùng giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, chúng em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại Vũ Hoàng Lân - Tam Dương - Vĩnh Phúc’’ 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở. 2 - Xác định và thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái sinh sản nuôi tại cơ sở.

- Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế. - Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi. Yêu cầu - Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái. - Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái.

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân. 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.

Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lý Trang trại chăn nuôi của ông Vũ Hoàng Lân thuộc địa bàn xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Vị trí địa lý huyện được xác định như sau: - Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo. - Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và thành phố Vĩnh Yên.

- Phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường và huyện Yên Lạc. - Phía Tây giáp huyện Lập Thạch. Khí hậu Tam Dương là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó trại lợn của ông Vũ Hoàng Lân chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng.

Huyện Tam Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hạ. Ngoài ra còn mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp với thời gian không dài. Lượng mưa bình quân hàng năm là 1. Mưa nhiều từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm.

Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 24,1C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 30C (tháng 6), thấp nhất là 16,3C (tháng 1). Độ ẩm không khí trung bình năm 82,33%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất là 86% (tháng 4, tháng 8). Độ ẩm trung bình thấp nhất là 76% (tháng 12). Gió theo hai mùa chính trong năm: - Mùa hạ: Gió mùa Đông - Nam thịnh hành thổi từ tháng 3 đến tháng 10.

- Mùa Đông: Gió mùa Đông - Bắc thịnh hành thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức trại bao gồm 3 nhóm: - Nhóm quản lý: + 01 chủ trại + 01 kế toán - Nhóm kỹ thuật: 01 kỹ sư hỗ trợ của công ty cám - Nhóm công nhân: + 02 công nhân (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ) + 03 sinh viên thực tập 2. Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại có tổng diện tích 2 ha bao gồm: Khu chăn nuôi, khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả. Trong đó trại lợn được chia làm hai khu chính là khu điều hành và khu chăn nuôi.

Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nhà ăn, ở của công nhân cổng ra vào trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm. Ngoài ra trại còn thiết kế thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân. Khu sản xuất gồm: 1 chuồng đẻ; 1 chuồng bầu và 2 chuồng thịt. Một số công trình phục vụ cho chăn nuôi như: Kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng.

Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 1 dãy chuồng chính. Mỗi ngăn chuồng lại gồm 48 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô là 2,4 × 1,6 m/ô. Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 4 quạt thông gió ở cuối chuồng. Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện.Thứ 2 là hệ thống chuồng bầu với 1dãy chuồng chính, trong chuồng được lắp đặt 350 ô, kích thước 2,4 × 0,65 m/ô.

Cũng như chuồng đẻ chuồng bầu cũng có dàn mát, cuối chuồng có 8 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng hệ thống nước tắm. Thứ 3 là hệ thống chuồng lợn thịt với 2 dãy chuồng, mỗi chuồng có 12 ô tổng 2 dãy chuồng có 24 ô với kích thước 6 m × 7 m/ô: Lợn thịt thường được nuôi trong các ô rộng và nuôi thành từng nhóm từ 35 - 40 con/ô, 5 mỗi ô khoảng 40 m2. Chuồng nuôi lợn thịt có thể thiết kế đa dạng các kiểu, có nền có độ dốc tốt và dễ thoát nước, có hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 8 quạt thông gió ở cuối mỗi chuồng. Máng ăn tự động để con nào cũng ăn được tiêu chuẩn ăn của chúng.

Có vòi uống nước tự động có thể 5 vòi/ô. Ngoài ra ở mỗi dãy chuồng lợn thịt còn có 1 ô rộng 8-10 m2 ở phía cuối dãy chuồng nơi gần quạt thông gió để chứa các con lợn bệnh trong thời gian chữa bệnh cho chúng. Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung. Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm.

Xung quanh trang trại còn trồng nhiều cây ăn quả, hầm biogas để tạo môi trường thân thiện trong chăn nuôi. Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được xử lý bằng hóa chất. Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh. Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và kho cám.

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng. Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt. Mọi công nhân trong trại và khách đến thăm quan đều phải đi qua hệ thống sát trùng thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng trước khi vào chuồng. Thuận lợi và khó khăn 2.

Thuận lợi - Trại được xây dựng xa khu dân cư, giao thông thuận tiện. - Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. - Đội ngũ công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc. - Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại nên rất phù hợp với chăn nuôi công nghiệp hiện nay.

Khó khăn - Thời tiết diễn biến phức tạp hay xảy ra rét đậm rét hại, nguy cơ hạn hán, thiên tai, dịch bệnh có thể xảy ra trên diện rộng, nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn, không triệt để, chi phí phòng ngừa và chữa bệnh tăng, ảnh hưởng tới giá thành chăn nuôi. - Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng không nhỏ tới chăn nuôi của trang trại. - Giá lợn hiện nay diễn biến thất thường, có lúc hạ sâu kỷ lục ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế của trang trại. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 2.

Đối tượng Trại đưa vào hoạt động năm 2017 và đến tháng 1 năm 2018 bắt đầu có lứa lợn đẻ đầu tiên. Công tác chọn giống được chủ trại quan tâm, chú trọng, trại đã chọn mua giống lợn hai máu Yorkshire và Landrace nuôi gây giống, ưu điểm của giống này là đẻ sai con, nuôi con khéo, tuổi sử dụng kéo dài, khả năng tiết sữa tốt, chịu đựng tốt trong điều kiện khí hậu. Kết quả sản xuất Năm 2017: Có 1500 heo thịt (lúc này do mới đi vào hoạt động nên số lợn thịt này phải nhập từ Công ty Japfa Comfeed Việt Nam). Với quy mô hai chuồng thịt là 1000 con, chuồng bầu 200 nái thì trại hoàn toàn có khả năng đẩy mạnh số lượng nhưng do tình hình về giá cả xuống thấp kỷ lục nên việc đẩy mạnh bị hạn chế.

Cở sở khoa học của đề tài 2. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 2. Phòng bệnh Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể haṇ chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu 7 tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ.

Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hơp ̣ nhiều biện pháp khác nhau. - Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt: Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [Error! Reference source not found.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ