Chương I bắt đầu với việc giới thiệu về chủ đề này, bao gồm mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Trong chương II, tác giả giới thiệu khuôn khổ lý thuyết Taylor và những nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến nghiên cứu của tác giả. Chương III trình bày các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết, sẽ được kiểm định trong nghiên cứu. Giới thiệu các phương pháp và dữ liệu, mà sẽ được sử dụng trong các kiểm định.
Trong chương IV tác giả sẽ phân tích và thảo luận các kết quả thực nghiệm. Cuối cùng chương V tác giả sẽ tóm tắt các kết luận của nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ KHUNG LÝ THUYẾT 2. Quy tắc Taylor tuyến tính 2.
Quy tắc Taylor cơ bản Taylor (1993) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED) trong giai đoạn 1980 – 1990, phát hiện ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân theo một quy tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Từ đó, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một quy tắc điều hành lãi suất của NHTW được gọi là quy tắc Taylor. Quy tắc Taylor cho rằng, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh lệch sản lượng và chênh lệch lạm phát. Và được biểu thị bằng hàm phản ứng chính sách như sau: (1) Trong đó là lãi suất danh nghĩa ngắn hạn là một công cụ của chính sách tiền tệ và giả định rằng nó sẽ tăng nếu lạm phát ( lớn hơn mức mục tiêu ( ) hay sản lượng (y) tăng cao hơn đường xu hướng của nó hay là giá trị sản lượng tiềm năng (y*).
là độ nhạy cảm của lãi suất cơ bản đối với độ chệch trong lạm phát đối với mức mục tiêu. là độ nhạy cảm của lãi suất đối với chênh lệch sản lượng. Khi cân bằng, mức chênh lệch của lạm phát và sản lượng so với mức mục tiêu bằng 0 và do đó dẫn tới lãi suất (i*) mong đợi là bằng tổng của lãi suất thực cân bằng ) và mức lạm phát mục tiêu. Theo Taylor, kể từ đầu những năm 1980, lãi suất điều hành (federal funds rate) của FED biến động cùng xu hướng và bám sát với lãi suất khuyến nghị của lãi suất Taylor.
Quy tắc Taylor được cả thế giới nghiên cứu và NHTW quan tâm và dần trở thành một chỉ báo được quan tâm đối với việc phân tích và điều hành chính sách tiền tệ. Tại FED, các thành viên Ủy ban nghiệp vụ thị trường mở liên bang (FOMCs), trong đó có cựu chủ tịch Greenspan và một số chủ tịch FED địa phương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 cũng thường đề cập đến quy tắc Taylor trong các đề xuất lãi suất. Theo Mishkin (2004) lãi suất Taylor phản ánh tương đối đối với chính sách tiền tệ của FED trong khoảng 4 thập kỷ qua. Dưới thời chủ tịch Arthur Bums (1970 – 1979) lãi suất của FED liên tục thấp hơn lãi suất Taylor khiến lạm phát trong thời kỳ này tăng cao.
Dưới thời chủ tịch Paul Volcker (1979 - 1987), FED đặt trọng tâm là kiềm chế lạm phát, vì vậy lãi suất của FED nhìn chung luôn cao hơn lãi suất Taylor. Đến thời chủ tịch Greenspan (1987 – 2003), lãi suất điều hành bám sát lãi suất Taylor hơn, độ biến động của lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Mỹ cũng thấp hơn các thời kỳ trước. Ưu điểm chính của quy tắc Taylor là tính toán đơn giản, dễ hiểu, dễ tính toán, do đó, giúp tăng cường tính minh bạch và khả năng giải trình cho NHTW, quy tắc Taylor cho phép điểu chỉnh linh hoạt trọng số của sản lượng và lạm phát phù hợp với mục tiêu trọng tâm của NHTW trong việc quyết định lãi suất điều hành. Điều này có ý nghĩa với các NHTW sử dụng cơ chế điều hành CSTT theo mục tiêu lạm phát so với mục tiêu tăng trưởng trong từng thời kỳ.
Quy tắc Taylor cải tiến Quy tắc Taylor cơ bản xem xét độ chệch của lạm phát đối với mức lạm phát mục tiêu trong 4 quý liền kề trong quá khứ. Tuy nhiên trong thực tế ngân hàng Trung ương có xu hướng không sử dụng lạm phát trong quá khứ hay lạm phát hiện tại mà thường nhắm tới mức lạm phát kì vọng. Vì lí do này mà Clarida & cộng sự (1998) đã đề nghị sử dụng phiên bản cải tiến của quy tắc Taylor. Phiên bản này cho phép ngân hàng Trung ương có thể lấy nhiều biến liên quan để xem xét khi tạo lập mức lạm phát dự báo.
Do đó, theo bài nghiên cứu này thì mức lãi suất mà ngân hàng Trung ương mong đợi phụ thuộc vào độ lệch của lạm phát kì vọng trong k thời kì (lãi suất theo năm) so với mức mục tiêu và mức chênh lệch sản lượng kì vọng trong p thời kì, sau đây là phương trình của quy tắc Taylor cải tiến: , (2) Trong đó E là kì vọng của nhà điều hành và là một vecto tổng hợp tất cả các thông tin sẵn có để ngân hàng Trung ương xác định mức lãi suất cơ bản. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Theo quy tắc Taylor, đối với chính sách tiền tệ ổn định thì hệ số nên lớn hơn 1 và hệ số nên dương. >1 có nghĩa là ngân hàng Trung ương gia tăng lãi suất thực để kiềm chế lạm phát cao hơn nhằm tạo nên tính ổn định trong lạm phát, mặt khác < 1 thì cho thấy một động thái điều tiết lãi suất đối với lạm phát gây ra hiện tượng tự đáp ứng của lạm phát và sản lượng. Hệ số > 0 có nghĩa là khi mà sản lượng thực thấp hơn mức sản lượng tiềm năng nếu giảm lãi suất sẽ tạo ra một tác động ổn định đối với nền kinh tế trở lại.
Bình thường khi tiến hành ước lượng hàm phản ứng của chính sách tiền tệ mục đích là để kiểm soát các quan sát có chứa hiện tượng tự tương quan trong lãi suất. Điều này thường được thực hiện bằng cách giả định ngân hàng Trung ương không hiệu chỉnh lãi suất một cách trực tiếp đối với mức mục tiêu nhưng phải quan tâm về kĩ thuật làm trơn lãi suất. Nhiều lí thuyết điều chỉnh cải tiến trong các nghiên cứu về kĩ thuật làm trơn lãi suất trong quy tắc Taylor, như mối lo ngại về sự sụp đổ của thị trường tài chính, sự tồn tại của lãi suất danh nghĩa bằng 0 thấp hơn ngưỡng giới hạn hay thậm chí là những tác động từ các cú sốc kinh tế. Do đó, nếu ngân hàng Trung ương từ từ điều chỉnh lãi suất theo mức mục tiêu, động cơ của việc điều chỉnh mức lãi suất hiện tại tới mức mục tiêu được đưa ra khái quát như sau.
(3) Trong đó là mức độ làm trơn lãi suất và j là số độ trễ. Số độ trễ trong phương trình này được chọn dựa trên nền tảng thực nghiệm để loại bỏ sự tự tương quan trong phần dư. Đặt α= - (β-1) , = và thế phương trình (2) vào phương trình (3) giả định rằng ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát lãi suất dựa trên sai số ngẫu nhiên (u) đạt được phương trình dưới đây: + , (4) Lí thuyết được ước lượng trong bài nghiên cứu. Quy tắc này được mở rộng để thêm vào vectơ bổ sung của m biến giải thích (x) nó có thể ảnh hưởng đến quá trình xác định lãi suất.
Để làm được điều đó chúng ta chỉ cần thêm vào dấu ngoặc vuông trong phương trình (4) trong đó là vecto của hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 số liên kết đối với các biến bổ sung. Loại trừ những biến dự báo không quan sát được phương trình được viết lại như sau: 5) Trong đó sai số là một sự kết hợp tuyến tính của sai số trong dự báo của lạm phát, sản lượng, vetơ biến ngoại sinh bổ sung và biến nhiễu. Phương trình số (5) sẽ được ước lượng bằng GMM. Theo Clarida & cộng sự (1998, 2000) phương pháp này khá phù hợp đối với phân tích kinh tế lượng về quy tắc xác định lãi suất mà trong đó việc hồi quy dựa trên các biến không thể xác định được chính xác tại thời điểm ra quyết định ở hiện tại của ngân hàng Trung ương.
Để thực hiện phương pháp này, tập hợp các tình trạng trực giao được áp dụng: = 0, (6) Trong đó là một vectơ biến công cụ trong phạm vi các thông tin của ngân hàng Trung ương trong khoảng thời gian nó xác định lãi suất cơ bản và nó trực giao với. Trong số những biến này chúng ta có thể có một tập hợp các biến trễ giúp dự đoán lạm phát, chênh lệch sản lượng và biến ngoại sinh bổ sung, cùng với các biến thời kì không bị tương quan đối với các biến nhiễu hiện tại. Một ma trận có trọng số tối ưu có thể giải thích cho hiệp phương sai không đồng nhất và tương quan dạng chuỗi trong được dùng trong ước lượng. Xem xét độ lớn của vectơ biến công cụ lớn hơn số lượng các tham số đã được ước lượng, kiểm định Hansen phải được thực hiện để đánh giá giá trị của các tiêu chuẩn và dùng để thiết lập các biến công cụ.Trong tình huống này, kiểm định Hansen sẽ được áp dụng với giả thiết H0 là tập hợp các biến công cụ là có ý nghĩa; sự bác bỏ tính trực giao chỉ ra rằng ngân hàng Trung ương sẽ không điều chỉnh hành vi đối với các thông tin về lạm phát và sản lượng trong tương lai đối với các biến công cụ.
Trong một số trường hợp một số biến công cụ có thể tương quan với , thì tình trạng trực giao sẽ bị vi phạm, dẫn tới bác bỏ mô hình. Trong thực tế, để ước lượng phương trình số (5) chúng ta thường xem xét dạng rút gọn dưới đây: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 + , (7) Trong đó vectơ của tham số mới có mối quan hệ với vectơ cũ như sau: Do đó, với ước lượng thông số đạt được từ (7), chúng ta có thể tìm lại được những ước lượng của hệ số α, β, γ, ϕ và sai số chuẩn bằng cách sử dụng phương pháp delta. Theo Clarida & cộng sự (1998) chúng ta xem trung bình các quan sát về lãi suất thực trong thời kì nghiên cứu như là lãi suất thực cân bằng. Do đó, chúng ta có thể ước lượng được mức lạm phát mục tiêu tuyệt đối được theo đuổi bởi ngân hàng Trung ương như sau: / .