CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN BÊN THỨ BA ĐỂ ĐẢM BẢO KHOẢN VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại các ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại Theo quy định tại Điều 292 BLDS năm 2015 có 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản. Trong số đó, có 7 biện pháp được gọi là GDBĐ, 2 biện pháp: bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản chỉ được gọi là biện pháp bảo đảm. Ta có thể phân nhóm các biện pháp bảo đảm như sau: Nếu xét tiêu chí luật định, có thể chia thành hai nhóm: - Nhóm 1: là nhóm biện pháp bảo đảm xác lập theo quy định của luật: cầm giữ tài sản. - Nhóm 2: là nhóm biện pháp bảo đảm xác lập theo sự thoả thuận gồm 8 biện pháp: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp.
Nếu xét về tiêu chí tính chất, có thể chia thành hai nhóm - Nhóm 1: nhóm biện pháp bảo đảm bằng tài sản (mang tính đối vật): Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký cược, ký quỹ, đặt cọc, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. - Nhóm 2: nhóm biện pháp bảo đảm không bằng tài sản (mang tính đối nhân): bảo lãnh, tín chấp1 1 Nguyễn Hồng Hải (2017), “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác trong BLDS năm 2015”– Vietnam Law & Legal Forum, Vol.23 – No 276 August 2017 11 Trên thực tế, để đảm bảo cho việc cấp tín dụng nói chung và cho vay nói riêng thì các NHTM sử dụng các loại GDBĐ: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Trong đó, thế chấp tài sản là một trong những GDBĐ được sử dụng phổ biến. Nếu trường hợp tài sản thuộc sở hữu của bên vay, thì trong giao dịch vay vốn tồn tại hai chủ thể: Bên vay (cũng là BTC) – Bên cho vay (cũng chính là BNTC).
Nếu trường hợp TSBĐ thuộc sở hữu một đối tượng khác với bên vay, lúc này sẽ có ba chủ thể tham gia giao dịch vay vốn gồm: Bên vay, BTC, BNTC. Nếu xét về HĐCV sẽ tồn tại 2 chủ thể: Bên vay và bên cho vay. Nếu xét về HĐBĐ, các chủ thể là: BTC, BNTC và bên vay. Trong bài viết này, tác giả tạm gọi bên có tài sản là bên thứ ba, và sẽ phân tích quy định pháp luật về Thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại NHTM.
Theo quan điểm của PGS.TS Đỗ Văn Đại: việc dùng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ cho bên thứ ba chưa được thừa nhận một cách chính thống từ Quốc hội và đồng tình từ Toà án 2. Hay nói cách khác thế chấp chỉ dùng để đảm bảo cho nghĩa vụ của chính bên có tài sản. Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Hồng Hải (2017): bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của người khác là việc một bên thoả thuận với chủ nợ sẽ bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay thông qua lời cam kết (là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân như bảo lãnh hoặc tín chấp) hay thông qua tài sản cụ thể (biện pháp bảo đảm đối vật như cầm cố, thế chấp)3. Theo quan điểm của tác giả: Nếu theo định nghĩa tại BLDS năm 1995 thì bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của chính mình, tức là trong giao dịch dân sự này chỉ tồn tại hai chủ thể là bên có nghĩa vụ cũng 2 Đỗ Văn Đại (2020), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm năm 2015 (sách chuyên khảo, tái bản lần thứ ba), Nxb.
Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 3 Nguyễn Hồng Hải (2017), “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác trong BLDS năm 2015”– Vietnam Law & Legal Forum, Vol.23 – No 276 August 2017 12 chính là BTC và BNTC. Nhưng xét về định nghĩa thế chấp theo quy định của BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 thì gần như là tương đồng nhau và có sự khác biệt với BLDS năm 1995 trước đó: cả hai bộ luật đều nêu lên việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ mà không đề cập đến nghĩa vụ đó là của ai: của chính bên có tài sản hay một bên khác có nghĩa vụ. Tuy nhiên trong BLDS năm 2015 cũng không có một điều khoản nào cấm, hạn chế quyền của các chủ thể khi lựa chọn các biện pháp bảo đảm miễn là đáp ứng các nguyên tắc cơ bản của BLDS bao gồm: - Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thoả thuận: miễn là thoả thuận này không vi phạm vào các điều cấm của luật và đạo đức xã hội.4 - Quyền dân sự của các bên có thể bị hạn chế để phục vụ quốc phòng, hay an ninh quốc gia, sức khoẻ của cộng đồng….5 - Các chủ thể thực hiện quyền dân sự không được lạm quyền gây thiệt hại cho chủ thể khác, hoặc thực hiện mục đích phạm pháp và đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo Điều 3 BLDS.6 Mặc dù BLDS năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thế chấp tài sản bên thứ ba nhưng nếu các giao dịch dân sự được thiết lập giữa các bên đảm bảo tuân thủ đúng các nguyên tắc này thì các giao dịch này vẫn được công nhận hiệu lực.
Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 đã phần nào cụ thể hóa, giải thích thêm cho khái niệm này thông qua quy định: Người có nghĩa vụ có thể đồng thời hoặc không đồng thời là bên bảo đảm7. Điều này có nghĩa là có thể tồn tại 2 bên: người có nghĩa vụ - bên có tài sản và bên có tài sản hoàn toàn có thể dùng tài sản của mình để bảo đảm cho người có nghĩa vụ. Trong trường hợp này có thể áp dụng 4 Khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 5 Khoản 2 Điều 5 BLDS năm 2015 6 Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 10 BLDS năm 2015 7 Khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015 13 GDBĐ là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản8. Hơn nữa, quan điểm của Bộ tư pháp cũng đã công nhận GDBĐ của bên thứ ba thông qua Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 07/2019/TT- BTP ngày 25 tháng 11 năm 2019: việc đăng ký thế chấp QSDĐ, TSGLVĐ, QSDĐ đồng thời TSGLVĐ…được thực hiện để đảm bảo nghĩa vụ dân sự của BTC, nghĩa vụ người khác hoặc nghĩa vụ của cả BTC và người khác.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm: Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay tại NHTM là sự thoả thuận giữa các bên rằng một bên (gọi là BTC) sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên có nghĩa vụ với NHTM (BNTC) và không có sự chuyển giao tài sản giữa các bên tham gia giao dịch.2 Đặc điểm thế chấp tài sản của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại Thứ nhất: không có sự chuyển giao TSTC Thế chấp tài sản của bên thứ ba cũng có đặc điểm như thế chấp là không có sự chuyển giao TSTC. Điều này có nghĩa là BTC được phép tiếp tục sử dụng, khai thác hoa lợi, lợi tức, công năng hiện có của TSTC9. Đối với BNTC thì cũng tiết kiệm được chi phí quản lý, lưu trữ TSBĐ. Đây cũng xem như là một ưu điểm của biện pháp bảo đảm này.
Thứ hai: Thế chấp tài sản của bên thứ ba mang tính đối vật. Đây là đặc tính cơ bản và nổi trội nhất để phân biệt biện pháp bảo đảm này với các biện pháp bảo đảm khác. Vật quyền hay quyền đối vật là quyền của chủ thể đối với 8 Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, ban hành ngày 19/03/2021 9 Khoản 1 Điều 321 BLDS năm 2015 14 một tài sản; tương ứng từng quan hệ của chủ thể với tài sản mà chủ thể có quyền khác nhau (quyền sở hữu, quyền định đoạt….)10 Vật quyền bảo đảm (tiếng Pháp: sûreté réelle) là một khái niệm của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law), được dùng để chỉ quyền trực tiếp và ngay tức khắc của bên nhận bảo đảm trên một tài sản được chủ sở hữu của nó dùng để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ. Vật quyền bảo đảm là một biện pháp làm tăng quyền năng của trái chủ, mà không phụ thuộc vào người khác, cho phép trái chủ có quyền lợi đặc biệt đối với tài sản của người thụ trái11.
Quan hệ đảm bảo có thể gồm cả trường hợp bên thứ ba dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ của bên khác, theo đó, chủ sở hữu đã trao quyền định đoạt tài sản của mình cho BNTC. Trong quan hệ vật quyền thì chủ thể có thể thực hiện quyền của mình lên đối tượng là tài sản bằng hành vi trực tiếp của mình mà không quan tâm đến ý kiến của chủ thể khác. Nhờ đó mà quan hệ vật quyền tạo sự an tâm hơn và chủ động cho trái chủ. Các quyền đối vật trong quan hệ vật quyền bao gồm: - Quyền tác động trực tiếp lên tài sản: như chính tên gọi đây là quyền của BNTC thực hiện các hành vi tác động trực tiếp lên TSBĐ.
Đây là quyền quan trọng nhất, giành sự chủ động cho BNTC, để có thể triển khai nhanh chóng nhất quyền lợi của mình khi xảy ra tình huống phải xử lý đến TSBĐ. - Quyền theo đuổi: là quyền của BNTC trong việc duy trì, lặp lại quyền chiếm hữu, kiểm soát TSBĐ cho việc hưởng quyền dân sự của mình12. Nghĩa là, dù cho TSBĐ có chuyển nhượng cho ai đi nữa thì vẫn trong tình trạng đã được 10 Ngô Thu Trang (2018), “Lý thuyết về vật quyền bảo đảm và vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, https://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2326, truy cập ngày 25/06/2023 11 Pierre Voirin, Gilles Goubeaux (1999), Droit Civil: Personnes – Famille, Incapacité – Biens, Obligations – Sûreté. Ấn bản thứ 27, Tr 606.
12 Ngô Thu Trang (2018), “Lý thuyết về vật quyền bảo đảm và vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, https://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?