Chương 1: Những cơ sở pháp lý về thế chấp tài sản có bảo đảm là bất động sản hình thành trong tương lai trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thế chấp bất động sản hình thành trong tương lai trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN CÓ BẢO ĐẢM LÀ BẤT ĐỘNG SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƢƠNG LAI TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những cơ sở lý luận pháp lý về thế chấp bất động sản hình thành trong tƣơng lai trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm, đặc điểm bất động sản hình thành trong tƣơng lai Theo cách phân loại truyền thống, tài sản được phân thành động sản và bất động sản nên khái niệm bất động sản hình trong trong tương lai được hiểu theo khái niệm tài sản hình thành trong tương lai của BLDS năm 2015. Khoản 2 Điều 108 BLDS năm 2015 quy định: “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: a) Tài sản chưa hình thành; b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”. Điều luật quy định dưới dạng liệt kê mà không chỉ rõ các đặc điểm pháp lý để nhận diện tài sản hình thành trong tương lai. Theo quy định của Điều 108 BLDS năm 2015, có hai loại tài sản hình thành trong tương lai, đó là tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể tại thời điểm xác lập giao dịch.
Thứ nhất, tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa hình thành. Trường hợp này được hiểu là tài sản chưa tồn tại, đang được đầu tư, xây dựng vào thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có và hình thành trong tương lai. Về mặt thực tế, thì tài sản này chưa được hiện hữu trên thực tế. Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch được giao kết) nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai.
Ví dụ: tiền lương sẽ được hưởng, vụ mùa sẽ được thu hoạch, tàu đang được đóng, nhà, công trình xây dựng đang hình thành theo hồ sơ, dự án, thiết kế bản vẽ thi công và tiến độ cụ thể… Thứ hai, tài sản đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể tại thời điểm xác lập giao dịch. 11 Đó là tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên, ví dụ như: tài sản mua bán, thừa kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao cho chủ sở hữu. Như vậy, căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Nhờ sự phân loại tài sản hình thành trong tương lai giúp cho người thực hiện các giao dịch đúng theo quy định của pháp luật hiện hành có liên quan.
Với quy định này, chúng ta có thể rút ra nhận xét: có hai yếu tố mà nhà làm luật dựa vào đó để xác định tài sản hình thành trong tương lai gồm: 1) Yếu tố vật chất: đó là tài sản chưa hình thành theo đúng tính chất, tính năng, công dụng của loại tài sản đó; 2) Yếu tố pháp lý: ngay cả khi tài sản đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch. Có thể nói đây là hai yếu tố cần và đủ để xác định đó là tài sản hiện có hay tài sản hình thành trong tương lai. Nếu so sánh khái niệm này với quy định của Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Luật nhà ở năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì có sự khác biệt. Khoản 19 Điều 3 Luật nhà ở hiện hành quy định: “Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng”.
Khoản 4 Điều 3 Luật kinh doanh bất động sản hiện hành quy định: “Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng”. Đây là quy tắc xử sự được áp dụng chung thống nhất từ trung ương đến địa phương liên quan đến nhà ở, bất động sản hình thành trong tương lai. Hai văn bản luật này quy định về nhà ở và bất động sản hình thành trong tương lai dưới dạng định nghĩa chứ không phải dưới dạng liệt kê như cách quy định của Điều 108 BLDS năm 2015. Nếu so sánh thì định nghĩa này chỉ tương ứng với loại tài sản hình thành trong tương lai được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 108 BLDS năm 2015 và đã bỏ sót loại tài sản hình thành trong tương lai được quy định tại điểm b 12 khoản 2 Điều 108 BLDS năm 2015.
Hay nói cách khác, Luật nhà ở và Luật kinh doanh bất động sản định nghĩa loại nhà ở và bất động sản hình thành trong tương lai dựa trên yếu tố thứ nhất (tức yếu tố vật chất, vật lý của tài sản) mà bỏ qua yếu tố về mặt pháp lý của tài sản: đó là nhà ở, bất động sản đã hình thành nhưng chưa xác lập quyền sở hữu cho chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch thế chấp. Chính bởi vậy mà có ba loại bất động sản sau đây không được quy định là tài sản hình thành trong tương lai nếu theo cách hiểu của Luật nhà ở hiện hành và Luật kinh doanh bất động sản hiện hành. Thứ nhất, nhà ở đã hình thành đang là đối tượng của hợp đồng mua bán, thuê mua, trao đổi, tặng cho. Theo tác giả, nhà ở là đối tượng của hợp đồng mua bán, thuê mua, trao đổi, tặng cho đang trong quá trình thực hiện, hợp đồng đã phát sinh hiệu lực và các bên đang tiến hành thực hiện việc thanh toán tiền, bàn giao, đăng ký biến động thì cũng cần được ghi nhận là tài sản hình thành trong tương lai và bên mua được dùng làm tài sản bảo đảm.
Do sự thiếu vắng trong quy định của Luật nhà ở đối với loại tài sản này nên trong thực tiễn một số tổ chức tín dụng vẫn cấp tín dụng cho những khoản vay có bảo đảm bằng nhà ở đang mua bán để trả tiền mua chính ngôi nhà đó, được gọi là tài sản hình thành từ vốn vay. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng cũng có tâm lý lo ngại khi có tranh chấp phải ra tòa và khả năng tòa án có thể căn cứ vào việc Luật nhà ở không có quy định về loại nhà ở này được thế chấp để tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu. Thứ hai, nhà ở đã xây dựng xong, đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng, hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đang nộp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng bị loại khỏi danh sách tài sản được thế chấp theo quy định của Luật nhà ở hiện hành. Tác giả cho rằng, sự minh bạch về nguồn gốc quyền sở hữu là một trong các tiêu chí của tài sản bảo đảm: đó là sự rõ ràng về căn cứ xác lập quyền sở hữu của tài sản (có căn cứ để chứng minh sự hình thành quyền sở hữu hoặc sẽ được sở hữu của bên thế chấp đối với tài sản thế chấp) và tính khả thi trong xử lý tài sản (đã hiện hữu và có thể xử lý được).
Như vậy, đối với nhà ở chưa xây hoặc đang xây vẫn được pháp luật ghi nhận là tài sản thế chấp thì tại sao đối với loại nhà ở đã xây dựng xong, đã bàn giao cho bên mua có độ an toàn đã cao hơn lại 13 không được thế chấp? Nếu trước kia chỉ có hợp đồng mua bán căn hộ với chủ đầu tư, với các hóa đơn chứng minh hoàn thành các đợt đóng tiền vẫn có thể thế chấp được thì tại sao khi hồ sơ đã hoàn tất để xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đã được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, lúc này sự an toàn về pháp lý cho bên mua đã được bảo đảm thì lại không được dùng làm tài sản thế chấp theo các điều kiện mà Luật nhà ở hiện hành quy định? Có thể giải thích là: do toàn bộ hồ sơ về nhà ở đã được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không còn hồ sơ để xác lập các giao dịch tiếp theo đối với tài sản. Tác giả cho rằng nếu quá chú trọng vào điều kiện về hồ sơ giấy tờ của nhà ở mà bỏ qua các sự kiện xác lập quyền như thời điểm thanh toán và bàn giao nhà được quy định tại Điều 12 Luật nhà ở hiện hành thì việc này cũng đồng nghĩa với việc sẽ phải gánh chịu thêm các rủi ro tiềm ẩn cho các chủ thể trong giao dịch bởi giấy tờ sở hữu có thể bị làm giả hoặc được cấp không tuân theo quy định của pháp luật. Tòa án đã được trao quyền để ra quyết định hủy bỏ quyết định hành chính không đúng luật. Việc nhận thế chấp loại nhà ở đã bàn giao, đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thì mặc dù không được Luật nhà ở hiện hành quy định nhưng vẫn đáp ứng được các yếu tố về tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của BLDS năm 2015 khi quy chiếu theo khái niệm về tài sản hình thành trong tương lai.
Luật nhà ở hiện hành quy định nhà ở hình thành trong tương lai được thế chấp để trả tiền mua chính nhà ở đó nên vào thời điểm bên mua đã nộp hồ sơ để xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thì tiền nhà đã thanh toán xong (hoặc chỉ còn 5% theo quy định) do đó việc tiếp tục cho phép loại nhà ở dùng để thế chấp là không cần thiết.