phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương, có kết luận của từng chương, cụ thể là: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng về thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình ở Việt Nam 6 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu đề tài 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu lý luận về thế chấp và pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất của các hộ gia đình để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng Bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng bằng thế chấp tài sản, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hoạt (2004),Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội.[69] Luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận về đảm bảo tiền vay và pháp luật về bảo đảm tiền vay; phát hiện và đưa ra những luận chứng có cơ sở khoa học về biện pháp thế chấp, các yếu tố chi phối nội dung pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng. Trên cơ sở đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật Việt Nam về thế chấp tài sản, cũng như chỉ ra nguyên nhân của những thực trạng đó, luận án đã đưa ra những giải pháp và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng bằng biện pháp thế chấp ở nước ta hiện nay.
Tại trang 47, tác giả viết: "Bản chất của quan hệ thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng là quan hệ hợp đồng, theo đó bên vay vốn hoặc bên bảo lãnh bằng tài sản dùng tài sản của mình là bất động sản hoặc tài sản được pháp luật cho phép sử dụng theo phương thức thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay của bên vay cho tổ chức tín dụng". Chính bởi vậy, tác giả đã phân tích biện pháp thế chấp trên cơ sở các yếu tố pháp lý của một quan hệ hợp đồng, với bản chất của quan hệ trái quyền. Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Nga (2008), Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội [88]. Luận án đã xây dựng được cơ sở lý luận để làm sáng tỏ và bản chất và đặc điểm của biện pháp thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất trên cơ sở so sánh với các hình thức thế chấp khác.
Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp quyền sử dụng đất và chỉ rõ những tồn tại, bất cập của hệ thống pháp luật, luận án đã đề xuất những giải pháp quy định thống nhất về thế chấp quyền sử dụng đất giữa các 7 luan an lĩnh vực pháp luật dân sự, pháp luật đất đai và pháp luật ngân hàng. Trong luận án của mình tác giả đã cho rằng thế chấp tài sản được phát sinh trên cơ sở một quan hệ nghĩa vụ và thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm có tính chất đối vật không có đảm bảo. Như vậy, hai tác giả của 2 luận án tiến sĩ trên đã có 2 quan điểm. Tác giả phân tích tính chất đối vật đã tạo cho bên nhận thế chấp được quyền định đoạt đối với tài sản thế chấp và ở vị thế ưu tiên hơn so với các chủ thể khác trong quan hệ nghĩa vụ khác nhau về bản chất của thế chấp.
Nếu tác giả Hoạt cho rằng thế chấp là quan hệ trái quyền (là hợp đồng) thì tác giả Nga lại cho rằng đó là quan hệ vật quyền. “Vật quyền bảo đảm-những vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật dân sự của nước ta”, Thạc sĩ Hồ Quang Huy (2010), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (số chuyên đề) Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm [73, tr 3-4]. Bài viết đã trình bày về lý thuyết của vật quyền bảo đảm và đánh giá những hạn chế của pháp luật Việt Nam khi đối chiếu với các nguyên lý về vật quyền bảo đảm. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện Bộ luật Dân sự năm 2005 theo lý thuyết về vật quyền bảo đảm.Trong bài viết, tác giả Hồ Quang Huy đã khẳng định thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm vật quyền.
Theo tác giả, quan hệ vật quyền bảo đảm được xác lập dựa trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa hai yếu tố: Chủ thể của quyền (con người) và đối tượng của quyền (tài sản). Tác giả đã chứng minh tính chất vật quyền bảo đảm thông qua nêu ra các đặc điểm riêng biệt của chúng, đó là: vật quyền bảo đảm phải được quy định trong văn bản pháp luật; vật quyền bảo đảm cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản ngay cả khi tài sản đó đang thuộc quyền chiếm hữu của chủ thể khác (tạm gọi là quyền theo đuổi); vật quyền bảo đảm cho phép chủ thể quyền thực hiện quyền của mình đối với tài sản bảo đảm trước những chủ thể đã xác lập quyền bảo đảm sau mình (tạm thời gọi là quyền ưu tiên); vật quyền bảo đảm cho phép bên có quyền "chống lại" các chủ thể khác có liên quan đến tài sản bảo đảm (tạm thời gọi là quyền đối kháng). Những điều không thể về giao dịch bảo đảm, Luật sư Trương Thanh Đức (2009), Tài liệu Tọa đàm Tổng kết tình hình thi hành các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Hà Nội.[52] Bài viết đã phân tích những điểm bất cập của pháp luật về giao dịch bảo đảm hiện hành như quy định của pháp luật coi 8 luan an biện pháp bảo đảm là hợp đồng bảo đảm; quy định nghĩa vụ trong tương lai là hợp đồng trong tương lai; quy định tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thế chấp; có quá nhiều thủ tục bắt buộc đối với một giao dịch bảo đảm.Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định pháp luật bảo đảm cần phải được sửa đổi để bảo vệ tốt hơn cho người nhận bảo đảm.Thể hiện quan điểm khoa học của mình về các biện pháp bảo đảm (trong đó có biện pháp thế chấp) trong bài viết tác giả đã khẳng định: Biện pháp bảo đảm không thể là hợp đồng bảo đảm. Tác giả giải thích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ là một biện pháp gắn liền với một hợp đồng, là một bộ phận, một điều kiện, điều khoản của hợp đồng chính.
Theo tác giả nếu coi thế chấp tài sản là một hợp đồng thì sẽ làm nảy sinh những hậu quả bất hợp lý, cụ thể như: Khi chủ thể là cá nhân thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình để cho doanh nghiệp của chính họ vay vốn thì theo những quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự sẽ không thể công chứng được khi một người đứng về hai phía trong một hợp đồng; hợp đồng thế chấp mà chủ sở hữu ủy quyền cho người khác ký kết bị hiểu là sẽ không có căn cứ pháp luật khi hết hạn của hợp đồng ủy quyền, khi bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền chết hoặc đơn phương chấm dứt hợp đông ủy quyền. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra đề xuất: pháp luật cần có những quy định rõ ràng để bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền trong những giao dịch bảo đảm này. Pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ của Hoàng Anh Tuấn (2006), Đại học quốc gia Hà Nội.[152] Công trình khoa học này đã đạt được những thành công trong việc phân tích về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Đặc biệt, tác giả đã phát hiện ra những bất cập của pháp luật hiện hành khi quy định về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm với những kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực pháp chế của Ngân hàng quốc tế (VIB).
Sách chuyên khảo của tập thể tác giả do Tiến sỹ Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên (2006), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng, NXB Tư pháp, Hà Nội.[143] Đây thực sự là công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống và chuyên sâu về bảo đảm tiền vay và các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng. Những vấn đề lý luận chung 9 luan an cũng như thực trạng pháp luật của các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được phân tích bình luận theo từng chương riêng. Các vấn đề cơ bản của pháp luật giao dịch bảo đảm như bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay, đăng ký giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay cũng được các tác giả lý giải và đánh giá khá đầy đủ và toàn diện. Trên cơ sở nội dung trên, công trình khoa học này đã đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ -Bản án và bình luận bản án, Sách chuyên khảo của PGS. Đây là cuốn sách chuyên khảo về lĩnh vực nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với sự kết hợp các kiến thức pháp lý từ "cổ luật" Việt Nam, đến luật thực định của Việt Nam có sự so sánh với quy định của Pháp là nước có nền pháp luật đại diện, tiêu biểu cho hệ thống pháp luật Châu âu. Trên cơ sở tuyển chọn và trích dẫn các bản án, quyết định của Tòa án các cấp, tác giả đã nghiên cứu, bình luận các vấn đề pháp lý cơ bản của pháp luật Việt Nam về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó có biện pháp thế chấp tài sản.