Chương 1, tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về Quỹ ĐTPTĐP như khái niệm, đặc điểm, hoạt động và vai trò của Quỹ ĐTPTĐP có thể tổng kết như sau: Thứ nhất, Quỹ đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương; thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển. Quỹ ĐTPTĐP có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Quỹ ĐTPTĐP hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro. Thứ hai, Quỹ ĐTPTĐP có 05 đặc điểm: (i) Chủ thể thành lập và quản lý ĐTPTĐP là Nhà nước; (ii) Nguồn vốn hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP bên cạnh nguồn vốn ngân sách địa phương cấp khi thành lập ĐTPTĐP hoặc bổ sung từ lợi nhuận sau thuế từ hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP, Quỹ ĐTPTĐP còn có thể huy động nguồn vốn ngoài ngân sách; (iii) Mục tiêu của Quỹ ĐTPTĐP là huy động nguồn vốn xã hội hóa để thực hiện cho vay và đầu tư trực tiếp vào các dự án hạ tầng nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; (iv) Vốn của Quỹ ĐTPTĐP khi cho vay/đầu tư vào các dự án được xem như “vốn mồi” để thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân cùng cho vay và đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, giảm bớt áp lực cho ngân sách địa góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cân bằng và bền vững của địa phương; (v) Quỹ ĐTPTĐP hoạt động theo mô hình ngân hàng chính sách, thực hiện nguyên tắc tự chủ về tài chính, không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn, tự chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu của mình.
Thứ ba, Quỹ ĐTPTĐP có vai trò quan trọng trong việc (i) khai thác và huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương; (ii) Đa dạng hóa các phương thức huy động vốn phù hợp với nhu cầu về đầu tư phát triển của địa phương; (iii) Góp phần phát triển thị trường vốn thông qua việc góp 18 vốn thành lập các tổ chức kinh tế, phát hành trái phiếu của Quỹ ĐTPTĐP, hoặc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo ủy nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố. Thứ năm, pháp luật điều chỉnh hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP. Thứ sáu, pháp luật điều chỉnh hoạt động của QuỹĐTPTĐP thường bao gồm những bộ phận cơ bản như: (i) Quy định về mục tiêu hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP; (ii) Quy định về nguyên tắc pháp lý trong quá trính hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP; (iii) Quy định về sử dụng vốn hoạt động; (iv) Quy định về nguồn hình thành vốn hoạt động của QuỹĐTPTĐP; (v) Quy định về chủ thể quản lý, giám sát Quỹ ĐTPTĐP; (vi) Quy định về mô hình tổ chức hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP; (vii) Quy định về quản lý, giám sát hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP. Trên cơ sở những khái quát mang tính lý luận này, tác giả đi đến nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động của QuỹĐTPTĐP và thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh tại Chương 2.
19 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG VÀ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát về mô hình Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố Hồ Chí Minh Vào những năm giữa thập niên 90, tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh kèm theo sự gia tăng dân số đáng kể đã làm cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội Thành phố ngày càng quá tải không đáp ứng kịp yêu cầu tăng trưởng kinh tế và cải thiện dân sinh, đặt ra nhu cầu bức xúc về phát triển kết cấu hạ tầng đôi thị. Mặc dù chính quyền Thành phố đã có nhiều nỗ lực trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụđô thị, nhưng luôn có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa yêu cầu đầu tư với khả năng đáp ứng nguồn vốn của ngân sách nhà nước. Trong bối cảnh đó, Ủy ban nhân dân thành phốđã nghiên cứu để tìm ra một định chế tài chính nhắm các mục đích” (i) Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách vào đầu tư hạ tầng đô thị; (ii) Huy động và quản lý hiệu quả các nguồn vốn ngoài ngân sách có tiềm năng lớn để tài trợ cho phát triển hạ tầng, vốn ngân sách chỉđóng vai trò ‘vốn mồi” để thu hút đầu tư; (iii) Đảm bảo hiệu quả của việc triển khai các dựán hạ tầng có thu hồi vốn, cũng như đề cao trách nhiệm của chủ đầu tư dựán. Được sự hỗ trợ từ các Bộ ngành trung ương, năm 1996 Chính phủđã cho phép thành lập mô hình thíđiểm Quỹ đầu tư phát triển đô thị Thành phố Hồ Chí Minh (HIFU) theo Quyết định thành lập số 644/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 09 năm 1996 theo và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 19 tháng 05 năm 1997.
Theo Điều lệ tổ chức và hoạt động đã được Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh ban hành ngày 15 tháng 03 năm 1997; Quỹ Đầu tư Phát triển Đô thị thành phố Hồ Chí Minh là một tổ chức tài chính; là một mô hình hoạt động mang tính thí điểm, nhằm xây dựng một cơ chế huy động vốn tập trung và hiệu quả để đầu tư vào 20 các dự án phát triển kết cấu hạ tầng và một số lĩnh vực công nghiệp then chốt trên địa bàn thành phố Qua 14 năm hoạt động từ năm 1997 đến năm 2010, HIFU đã thực hiện tốt vai trò là công cụ tài chính hữu ích của chính quyền địa phương trong việc thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, bước đầu xác lập chiến lược đầu tư vào hạ tầng đô thị. Tuy nhiên, khuôn khổ hoạt động của HIFU chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu đầu tư phát triển của thành phố. Trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư phát triển thành phố ngày càng lớn, yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và tăng cường năng lực cạnh tranh với các đô thị khác trong khu vực, Thành phố cần một tổ chức tài chính đặc biệt với quy mô đủ lớn, lĩnh vực hoạt động đủ rộng, có mô hình hoạt động và cơ chế quản trị tiên tiến để quản lý chuyên nghiệp, hiệu quả vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và huy động vốn trong nước và nước ngoài, chia sẻ trách nhiệm cùng với Trung ương và Thành phố trong lĩnh vực huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng xã hội và các lĩnh vực kinh tế thiết yếu trên địa bàn. Với nhiệm vụ chính trị nêu trên, Bộ chính trị đã có kết luận số 15-KL/TW ngày 18 tháng 10 năm 2007: “Đồng ý cho phép thành phố Hồ Chí Minh được thành lập Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước của thành phố để huy động vốn và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị và các lĩnh vực kinh tế quan trọng của thành phố”.
Sau đó, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 2103/TTg-ĐMDN ngày 04 tháng 11 năm 2009 cho phép Ủy ban nhân dân thành phố: "Thí điểm việc giao Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước TP.HCM thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các tổng công ty và công ty nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, các công ty cổ phần được chuyển đổi từ các công ty nhà nước độc lập trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh".2 2 Công văn số 2103/TTg-ĐMDN ngày 04 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về đồng ý về nguyên tắc việc thành lập Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh 21 Ngày 02 tháng 02 năm 2010, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (UBND TP.HCM) ban hành Quyết định số 576/QĐ-UBND về việc thành lập Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (HFIC), trên cơ sở kế thừa và phát huy hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời bổ sung thêm chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được chuyển giao. Việc thành lập HFIC đã thể hiện chủ trương đúng đắn, kịp thời và ý chí quản lý điều hành cũng như tâm huyết của nhiều thế hệ Lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố và nguyện vọng của các doanh nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân thành phố. Qua thời gian hoạt động, HFIC đã thể hiện là cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước hiệu quả và là nhà huy động vốn và đầu tư tiên phong, thu hút các nhà đầu tư khác cùng tham gia thực hiện những dự án hạ tầng quan trọng, các dự án kinh tế thiết yếu của Thành phố; bảo toàn và phát triển vốn nhà nước chuyển giao; góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị mà Nghị quyết, các chương trình hành động của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đặt ra. Trong phạm vi của đề tài này, khi đề cập đến Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là HFIC) sẽ được hiểu tiền thân là Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và các số liệu kết quả hoạt động chỉ trong phạm vi hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP.
Do đó, trong phần thực trạng và thực hiện pháp luật điều chỉnh hoạt động củaQuỹ ĐTPTĐP từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, luận văn sẽ nêu thực trạng và thực hiện pháp luật điều chỉnh hoạt động thực hiện chức năng Quỹ ĐTPTĐP của Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước thành phố Hồ Chí Minh (HFIC).