chương I luật doanh nghiệp 2014). Mỗi một doanh nghiệp trong quá trình phát triển đều phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai. Theo định nghĩa của luật doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là việc thực hiện một hoặc một sô giai đoạn của quá trình đâu tư, từ sản xuất đến tiêu dùng với mục đích thu lợi nhuận. Như vậy, từ góc độ tài chính, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn gan liền với quá trình tuân hoàn và chuyên vôn kinh doanh của doanh nghiệp qua các giai đoạn dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông (T - H— SX — H’ —T').
Trong quá trình đó luôn diễn ra sự vận động đồng thời nhưng ngược chiều của các dòng tiền vào ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các mối quan hệ kinh tế được phản ánh dưới hình thức giá trị (tiền tệ), nảy sinh gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình vận động của các dòng tiền vào và ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phản ánh bản chất hoạt động tai chính của một doanh nghiệp. Các quan hệ kinh tế bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp dưới hình giá trị hợp thành các quan hệ tài chính doanh nghiệp bao gồm: Quan hệ tài chính giữa Doanh nghiệp với Nhà nước Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật. Ngược lại, Nhà nước cũng có sự tài trợ về mặt tài chính thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô.
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tô chức xã hội khác Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thé kinh tế khác rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thê kinh tế cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau. Quan hệ tài chính giữa DN với người lao động trong DN Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán trả tiền công, thực hiện thưởng, phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quan hệ tài chính giữa DN với các chủ sở hữu của DN Quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện việc đầu tư, góp vốn vào, hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Đây là mỗi quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội bộ DN.
Về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gan liền với việc tạo lập. sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Về mặt hình thức, có thê hiểu tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ và sự vận động của quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Quá trình tạo lập, sử dụng va phân phối các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu hoạt động của DN, được thực hiện một cách thường xuyên liên tục và được lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh phản ánh những nội dung cơ bản, cốt lõi nhất trong hoạt động tai chính của một DN.
Các quyết định tài chính của doanh nghiệp Có ba loại quyết định cơ bản liên quan tới hoạt động quản trị TCDN: Quyết định huy động vốn Quyết định huy động vốn trả lời câu hỏi nên huy động vốn từ những nguồn nào, với quy mô bao nhiêu và khi nào dé có thé tối đa hóa giá trị hay lợi ích cho chủ sở hữu. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các DN có thể huy động vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau. Lựa chọn chính sách tài trợ đúng đắn, DN có thể giảm thiểu được rủi ro tài chính và thực hiện được mục tiêu tối đa hóa giá trị DN. Các quyết định huy động vốn cơ bản của DN bao gồm: - Quyết định huy động vốn ngắn hạn: Đó là quyết định vay ngắn hạn hay lựa chọn hình thức tín dụng thương mại.
- Quyết định huy động vốn dài hạn: Là quyết định sử dụng nợ dài hạn thông qua vay dai hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty; quyết định phát hành vốn cô phan (cô phần phổ thông hay là cô phan ưu đãi); quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và VCSH; quyết định vay dé mua, hay dé thuê tài sản,. Việc lựa chọn phương thức huy động vốn là van dé không hề đơn giản, đòi hỏi các nhà quản trị phải cân nhắc, so sánh giữa tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức độ rủi ro của đồng vốn huy động.đánh giá chính xác tình hình hiện tại va dự báo đúng đắn diễn biến thị trường - giá cả trong tương lai để đưa ra quyết định cho hiệu quả. Quyết định đầu tư vốn Quyết định đầu tư vốn là quyết định liên quan đến việc sử dụng vốn hay chỉ tiêu của doanh nghiệp, là quyết định đầu tư vào những cơ hội đầu tư nao trong điều kiện nguồn lực tài chính có giới hạn dé tối hóa giá trị doanh nghiệp.Các nhà quản trị phải lựa chọn để quyết định nên đầu tư vào lĩnh vực nào, mỗi lĩnh vực đầu tư bao nhiêu hay những tài sản nào sẽ được đầu tư, cơ cấu đầu tư tối ưu giữa tài sản ngắn han va tài sản dài hạn.Cụ thé: - Quyết định dau tư tài sản lưu động: Quyết định tồn quỹ, tồn kho, quyết định chính sách bán hàng, đầu tư tài chính ngắn hạn. - Quyết định dau tư tài sản cô định: Quyết định mua sắm tài san có định, đầu tư dự án, đầu tư tải chính dài hạn.
- Quyết định cơ cấu dau tư tối wu: Lua chọn co câu giữa TSNH va tai sản đài hạn, quyết định sử dụng đòn bây kinh doanh, quyết định điểm hòa vốn. Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết định tài chính doanh nghiệp bởi nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Quyết định đầu tư đúng đắn sẽ góp phần làm tăng giá trị doanh nghiệp, đồng thời tăng giatri tài san cho chủ sở hữu, ngược lại quyết định đầu tư sai lầm sẽ gây ton that giá trị doanh nghiệp, thiệt hai tài sản cho chủ sở hữu. Do vậy, các nha quản trị cần cân nhắc kỹ lưỡng, so sánh giữa tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức độ rủi ro của các dự án đầu tư dé đưa ra quyết định đúng đắn, hiệu quả nhất.
Quyết định phân phối lợi nhuận: Quyết định phân phối lợi nhuận gắn liền với quyết định phân chia cô tức hay chính sách cô tức của doanh nghiệp. Các nhà quản trị sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế dé chia cô tức hay giữ lại dé tái đầu tư. Thực hiện phân phối lợi nhuận sau thuế, cũng như việc trích lập các quỹ hợp ly sẽ góp phan quan trọng cải thiện đời sống vật chat, tinh thần của người lao động, đồng thời tạo điều kiện cho việc phát triển bền vững DN trong tương lai, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của chủ sỡ hữu. Ngoài ba quyết định tài chính doanh nghiệp chủ yếu trên, còn nhiều quyết định khác liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như quyết định mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, quyết định phòng ngừa rủi ro tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngoài cách phân chia này, căn cứ vào thời gian thực hiện hoặc ảnh hưởng của quyết định có thé chia các quyết định tài chính thành 2 loại: Quyết định tài chính dài hạn Là các quyết định có tính chất chiến lược, ảnh hưởng lâu dài đến sự tồn tại và phát trién doanh nghiệp. Thuộc quyết định tài chính đài hạn bao gồm: Quyết định huy động vốn dài hạn: Là quyết định lựa chọn nên huy động vốn dài hạn từ những nguồn nao, với quy mô bao nhiêu dé tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu. Sử dụng vốn vay lớn, tức đòn bẩy tài chính cao mà tỷ suất sinh lời cao hon lãi suất vay vốn thi dong tiền của doanh nghiệp và dòng tiền cho chủ sở hữu được cải thiện với chi phi sử dụng vốn thấp, tuy nhiên, nguy cơ vỡ nợ cũng cao. Ngược lại, nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu thì độ an toàn về mặt tài chính cao, có thể tránh được nguy cơ vỡ nợ, tuy nhiên, chỉ phí sử dụng vốn cao hơn so với việc sử dụng vốn vay.
Vì vậy, nhà quản trị tài chính phải nắm rõ ưu điểm và hạn chế của từng loại nguồn vốn dé đảm bảo cân bang giữa chi phi sử dụng vốn va mức độ an toàn về mặt tài chính. Quyết định dau tu dài hạn: Là các quyết định nên đầu tư vào các cơ hội đầu tư dài hạn nào trong tương lai để tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu trong điều kiện giới hạn về nguồn lực. Doanh nghiệp thường cân nhắc giữa các cơ hội có tỷ suất lợi nhuận cao, tương ứng rủi ro cũng cao và các cơ hội có độ an toàn về mặt tài chính nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp dé đạt được tối đa hóa lợi ích. Quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận: Là quyết định lựa chọn nên dành bao nhiêu lợi nhuận để chia cho chủ sở hữu, bao nhiêu đề tái đầu tư.Về cơ bản lợi nhuận sau thuế sẽ được chia thành 2 phần: lợi nhuận chia cho chủ sở hữu và phan giữ lại tái đầu tư.
Nếu doanh nghiệp chia nhiều lợi nhuận sau thuế cho cổ đông thì trước mắt làm hài lòng các cô đông, đáp ứng thu nhập trước mắt cho họ, nhưng nguồn tích lũy từ lợi nhuận thấp, tốc độ tăng trưởng thu nhập của chủ sở hữu thấp. Ngược lại, nếu DN giữ lại nhiều lợi nhuận tái đầu tư, tốc độ tăng trưởng thu nhập của chủ sở hữu sẽ tăng cao, nhưng trước mắt, các chủ sở hữu không thấy được lợi ích từ việc đầu tư, rủi ro của việc đầu tư cao hơn.