phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro tí n dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng. Luan van 4 Chƣơng 2: Thƣ̣c trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Bì nh Đị nh. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tại Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM đã phát triển vào những năm 1993 – 1994, trong thời gian đầu này tập trung nhiều vào cho vay trả góp, các sản phẩm cung ứng còn rất đơn điệu.
Tuy nhiên, do chƣa có hành lang pháp lý rõ ràng nên hoạt động đƣợc một thời gian các ngân hàng tỏ ra rất lúng túng trong việc cấp tín dụng theo hình thức này. Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tiêu dùng rất hữu ích nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu , mua sắm, sửa chữa nhà cửa…của các cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay này giúp ngƣời tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trƣớc khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có cuộc sống với chất lƣợng cao hơn nhƣ mua xe hơi, mua nhà, nghỉ ngơi, du lịch… Cho vay tiêu dùng đang đƣợc nhiều NH quan tâm đến vì nó mang lại nguồn lợi lớn cho NH , song vẫn còn rất nhiều bất cập trong vấn đề quản trị rủi ro t rong hoạt động cho vay tiêu dùng mà hiện nay các nhà quản lý vẫn đang tiếp tục hoàn thiện để hoạt động cho vay tiêu dùng phát triển mạnh mẽ , an toàn và bền vƣ̃ng hơn trong tƣơng lai. Võ Thị Thuý Anh (2012) đã có nghiên cƣ́u về cho vay tiêu dùng tại NH TMCP Ngoại Thƣơng, chi nhánh Đà Nẵng.
Trên cơ sở mô hình đo lƣờng CLDV SERVPERF và nền tảng của mô hình SERVPERF là mô hình SERVQUAL, bài viết đã xây dựng mô hình đo lƣờng CLDV cho vay tiêu dùng của NHTM với 6 thành phần/nhân tố và 34 yếu tố. Kết quả vận dụng thực tiễn tại VCB Đà Nẵng cho thấy, các nhân tố cấu thành CLDV cho vay tiêu dùng bao gồm: năng lực phục vụ và sự thấu cảm, khả năng đáp ứng sau Luan van 5 khi giải ngân, độ tin cậy về quá trình cung ứng dịch vụ, giá cả cảm nhận, độ tin cậy về lời hứa với khách hàng và sự thuận tiện và phƣơng tiện hữu hình với 29 yếu tố. Trong đó nhân tố năng lực phục vụ và sự thấu cảm có tác động mạnh nhất, tiếp theo lần lƣợt là nhân tố giá cả cảm nhận, độ tin cậy về lời hứa với khách hàng, sự thuận tiện và phƣơng tiện hữu hình, khả năng đáp ứng sau khi giải ngân và cuối cùng là độ tin cậy về quá trình cung ứng dịch vụ. Do đó, để nâng cao chất lƣợng dịch vụ cho vay tiêu dùng, VCB Đà Nẵng nói riêng và các NHTM nói chung cần chú trọng đến các nhân tố này, đặc biệt là hai nhân tố năng lực phục vụ và sự thấu cảm và giá cả cảm nhận.
Cụ thể, các NH cần chú trọng đến nâng cao năng lực chuyên môn và năng lực phục vụ của cán bộ tín dụng tiêu dùng; lãi suất cho vay và phí phải hợp lý, có tính cạnh tranh; và thời hạn cho vay linh hoạt, đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng vốn của ngƣời vay”[1]. Theo William Jarvis và Ian C. MacMillan trên Harvard Business (2012) thì: “Việc ngƣời tiêu dùng đang vay nợ đến mức kỷ lục để mua hàng hóa và dịch vụ, mặc cho các công ty bán hàng đang khó khăn,đôi khi sẽ là mối họa chí mạng. Khi khách hàng phải dành ra ngày càng nhiều thu nhập khả dụng của mình để chi trả các khoản nợ vay tiêu dùng trƣớc đó , các khoản mua sắm mới cũng sụt giảm đột ngột.
Nhiều ngƣời bắt đầu tuyên bố không còn khả năng thanh toán các loại thẻ tín dụng, biến các khoản mua sắm trong quá khứ thành nợ khó đòi trong hiện tại. Nên doanh số bán hàng của các cửa hiệu đã cho khách hàng mua theo hình thức vay trả góp trƣớc đây bị sụt giảm nghiêm trọng, họ phải đóng cửa hiệu, sa thải nhân công. Việc này không chỉ ảnh hƣởng đến bản thân cửa hiệu bán lẻ mà còn đến cả các nhà cung cấp và chủ cho vay của nó mà trong đó có vài công ty không còn tồn tại nữa. Cựu nhân viên cũng nhƣ các công ty khác làm ăn với những nhà cung cấp xấu số ấy Luan van 6 cũng cảm thấy bị ảnh hƣởng.
Mở rộng viễn cảnh này ra một chút, ngƣời tiêu dùng đã phụ thuộc vào các khoản tín dụng rẻ tiền và dễ dàng đến độ điều này đã trở thành mối hiểm họa lớn chƣa từng có cho nền kinh tế. Hiếm có công ty nào miễn nhiễm với rủi ro. Ngƣời tiêu dùng đang vay nợ đến mức kỷ lục để mua hàng hóa và dịch vụ, mặc cho các công ty bán hàng cho họ đang lâm vào hiểm nguy, đôi khi còn mang họa chí mạng. Nhƣng may thay, ngƣời ta có thể chuẩn đoán, phân tích và quản lý “kẻ sát nhân” này.
Một bảng phân tích với các chỉ số đơn giản có thể giúp bạn nhận biết những dấu hiệu cảnh báo về rủi ro đòn bẩy tiêu dùng (Consumer Leverage Exposure - CLE) và hành động để ngăn chặn từ xa phần lớn tác động phá hoại của nó lên công ty. Nhà quản lý nào phớt lờ các dấu hiệu cảnh báo ấy và mặc cho công ty nguy khốn thì thật đáng trách”[2]. Tƣ̀ nhƣ̃ng nghiên cƣ́u trên cho thấy , ở nƣớc ta , nghiên cứu rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng nói chung và quản trị rủi ro tí n dụng trong cho vay tiêu dùng nói riêng đối với các NHTM luôn đƣợc quan tâm và hiện nay vẫn mang tính thời sự cấp bách, cần tiếp tục hoàn thiện các luận cứ khoa học và thực tiễn. Hiện nay, khi mà một số văn bản pháp luật hƣớng dẫn đã ra đời thì lĩnh vực cho vay tiêu dùng ở nƣớc ta lại đang trong xu thế rộ lên, nó đang đƣợc xem là thị trƣờng tiềm năng lớn và có nhiều điều kiện phát triển mạnh cho các NHTM tại Việt Nam.
Luan van 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động đầu tƣ nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng. Trong nỗ lực nhằm thu đƣợc lợi nhuận, các ngân hàng không thể chối bỏ rủi ro, nghĩa là không thể không cho vay, mà chỉ có thể tìm cách làm cho hoạt động này trở nên an toàn và hạn chế đến mức tối đa những tổn thất có thể có bằng cách đề ra cho mình một chiến lƣợc quản lý rủi ro thích hợp. Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng đƣợc coi là nội dung quản lý quan trọng của ngân hàng thƣơng mại. Vậy quản trị rủi ro tín dụng là gì ? “Quản trị rủi ro tín dụng là toàn bộ quá trình thẩm định , đánh giá trƣớc khi khoản vay đƣợc phê duyệt cùng với quá trình giám sát và báo cáo việc tuân thủ những cam kết tín dụng”[3].
Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng là một bộ phận của quản trị rủi ro tí n dụng nằm trong khuôn khổ quản lý rủi ro chung của ngân hàng thƣơng mại. Ban lãnh đạo NHTM có trách nhiệm xây dựng mục tiêu , chiến lƣợc, nhiệm vụ kinh doanh đối với đối tƣợng khách hàng cá nhân, trong đó xác định rõ những rủi ro và lợi nhuận của ngân hàng , để thiết lập một hệ thống kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng cá nhân hiệu quả, giám sát các hoạt động tín dụng theo đúng quy đị nh , đánh giá mức độ rủi ro của hoạt động tín Luan van 8 dụng, đƣa ra các biện pháp tổ chức để hạn chế rủi ro, đặt ra các hạn mức và giám sát rủi ro. Nhƣ vậy có thể hiểu quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu dùng là một quá trình khởi đầu từ khi ngân hàng gặp gỡ khác h hàng cá nhân; thẩm định và phê duyệt cho vay đến khi tất toán hợp đồng nhằm đảm bảo thu hồi đầy đủ gốc và lãi theo cam kết trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng cá nhân và ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng Hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng là các khoản vay trung và dài hạn, với thời hạn từ 10 đến 20 năm, thậm chí 30 năm, nên có thể có rất nhiều rủi ro có thể phát sinh.[17] - Rủi ro mất khả năng thanh toán của người đi vay: Do các khoản cho vay tiêu dùng có thời hạn dài nên khả năng trả nợ phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng sức khoẻ, gia đình và công việc của ngƣời đi vay. Những rủi ro có thể xảy ra trong trƣờng hợp này bao gồm: + Ngƣời đi vay bị chết hoặc bị tai nạn dẫn đến mất khả năng lao động, hoàn toàn không có khả năng trả món nợ còn lại cho ngân hàng; + Ngƣời vay bị tai nạn, giảm khả năng lao động hoặc thay đổi vị trí công tác dẫn đến giảm sút thu nhập không thực hiện đƣợc đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
- Rủi ro do khách hàng gian lận: Do khách hàng vay tiêu dùng là các cá nhân nên các ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về khách hàng. Lợi dụng điều này khách hàng có thể cố tình gian lận để chiếm đoạt tiền vay dẫn đến rủi ro không thu hồi đƣợc vốn cho ngân hàng. Nguyên nhân phá t sinh rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng Trong quan hệ tín dụng có hai đối tƣợng tham gia là ngân hàng cho vay và ngƣời đi vay. Nhƣng quan hệ tín dụng này tồn tại trong một thời gian, Luan van 9 không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trƣờng kinh doanh, và đây là đối tƣợng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng.