phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại ngân hàng thƣơng mại. Luan van 4 Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Đà Nẵng. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu dựa trên thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại nói chung và của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Đà Nẵng nói riêng.
Đề tài phân tích thực trạng và công tác quản trị rủi ro tín dụng kết hợp với các nghiên cứu, lý luận, tƣ duy của các nhà nghiên cứu và các chuyên gia ngân hàng, kinh nghiệm của bản thân trong quá trình công tác và của đồng nghiệp trong quá trình hoạt động đã đƣa ra những ý kiến, nhận định, giải pháp nhằm đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và của hoạt động tín dụng nói riêng. Thông qua việc nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng và đề ra những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, bản thân khi nghiên cứu cũng mong muốn những suy nghĩ, đề xuất và những gì học hỏi đƣợc sẽ giúp ích cho công việc của bản thân trong tƣơng lai. Từ đó góp phần nâng cao mức độ hiệu quả công việc, an toàn cho công tác tín dụng nơi bản thân đang công tác. Trong quá trình hoàn thành đề tài quản trị rủi ro tín dụng này, tôi có tham khảo nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan nhƣ: một số luận văn có cùng đề tài nghiên cứu, các cuốn sách chuyên ngành về quản trị ngân hàng thƣơng mại, quản trị rủi ro tài chính, các tạp chí ngân hàng, thị trƣờng tiền tệ.
và luật các tổ chức tín dụng, quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12/12/1997, và luật sửa đổi bổ Luan van 5 sung một số điều của luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam số 10/2003/QH11 ngày 17/6/2003, Nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12/1997 và luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004, quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2006 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, báo cáo thƣờng niên, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kiên Long - Chi nhánh Đà Nẵng làm nguồn tài liệu để hoàn thành luận văn. - Tác giả Nguyễn Minh Kiều, Tài chính doanh nghiệp. Cuốn sách nói về việc phân tích và hoạch định tài chính doanh nghiệp giới thiệu các báo cáo, phân tích tài chính và hoạch định tài chính của doanh nghiệp nhằm giúp ngân hàng có cơ sở để biết đƣợc tài chính của công ty trong quá khứ và hiện tại và có các quyết định cho vay hợp lý. - Tác giả Nguyễn Minh Kiều, Quản trị rủi ro tài chính.
Cuốn sách giúp nhận dạng nguyên nhân gây ra các loại rủi ro, đo lƣờng và kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng giúp ngân hàng có cơ sở để quyết định có nên đầu tƣ vào các danh mục mà mình quản lý hay thay đổi cách thức quản lý các loại rủi ro nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro.Rose, Quản trị ngân hàng thƣơng mại. Cuốn sách nêu lên các rủi ro của danh mục cho vay, các biện pháp đo lƣờng và chiến lƣợc phòng ngừa rủi ro tín dụng trong ngân hàng. - Tác giả Vƣơng Thị Thúy Hồng, Phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng”, bài viết nói về thực trạng rủi ro tín dụng với hiệu quả của hoạt động tín dụng để từ đó đƣa ra những giải pháp thích hợp đối với hoạt động của ngân hàng. Trong bài viết tác giả chủ yếu sử dụng phƣơng pháp phân tích nhƣ: Phƣơng pháp thống kê tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, Luan van 6 phƣơng pháp phân tích tỷ trọng, số tƣơng đối, tuyệt đối.
Kết quả của tác giả đƣợc nhận định dựa chủ yếu vào tình hình nợ quá hạn, bên cạnh đó tác giả đƣa ra một số mức độ rủi ro tín dụng với các tiêu chí nợ quá hạn trên tổng dƣ nợ. - Tác giả Nguyễn Đăng Dờn, Quản trị ngân hàng thƣơng mại hiện đại, tác giả nêu lên nguyên nhân và tác động của các rủi ro tín dụng đến hoạt động ngân hàng. Từ đó đƣa ra các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. - Tác giả Lê Văn Tề, Tín dụng ngân hàng, tác giả phân tích các hoạt động tín dụng nhằm mục đích xác định khả năng và ý muốn của ngƣời vay trong việc hoàn trả tiền vay, phù hợp với các điều khoản của hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng phải xác định mức độ rủi ro có thể chấp nhận trong mỗi trƣờng hợp, mức cho vay có thể đƣợc chấp nhận và với mức rủi ro có thể xảy ra. Trên thực tế cho ta thấy, hoạt động tín dụng rất phức tạp và có nhiều biến động. Với lĩnh vực này trong cơ quan tính đến thời điểm này có rất ít đề tài nghiên cứu. Do đó, thông qua luận văn này cùng sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo sẽ giúp tôi có thêm tài liệu để phục vụ cho công tác của bản thân và đóng góp vào quá trình phát triển của ngân hàng nơi đang công tác.
Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng a. Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng đƣợc hiểu một cách đơn giản nhất đó là rủi ro không thu hồi đƣợc nợ khi đến hạn.
Nói một cách khác là ngƣời vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn. Đây là loại rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng. Về mặt định lƣợng: Rủi ro tín dụng đƣợc phản ánh bởi chính số lƣợng nợ quá hạn, nợ đọng của mỗi tổ chức tín dụng. Về mặt định tính: Rủi ro tín dụng có quan hệ ngƣợc chiều với chất lƣợng tín dụng.
Theo đó, chất lƣợng tín dụng càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp và ngƣợc lại, chất lƣợng tín dụng càng thấp, nợ quá hạn cao thì rủi ro tín dụng là rất lớn và có tác động ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. ♦ Các loại rủi ro tín dụng: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ƣớc về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chƣa thu hồi đƣợc vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trƣờng hợp này ngƣời ta gọi đó là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn. - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: là rủi ro xảy ra trong trƣờng hợp doanh nghiệp đi vay đã mất khả năng chi trả.
Do vậy ngân hàng phải thanh lý tài sản của doanh nghiệp để thu nợ. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có 4 nguyên nhân cơ bản gây nên rủi ro tín dụng: đó là nguyên nhân khách quan từ môi trƣờng bên ngoài, từ phía khách hàng, nguyên nhân do chính ngân hàng và nguyên nhân từ các đảm bảo tín dụng gây nên. - Nguyên nhân khách quan từ môi trƣờng bên ngoài: Nguyên nhân bất khả kháng: Các thiệt hại từ nguyên nhân thiên tai, bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn và động đất. Những thay đổi về nhu cầu của ngƣời tiêu dung hoặc về kỹ thuật một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả cơ đồ của một hãng kinh doanh và đặt ngƣời đi vay từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ.
Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh hoặc việc mất một ngƣời quản lý giỏi có thể làm thiệt hại nghiêm trọng đến khả năng chi trả tiền vay của ngƣời đi vay. Thông tin không cân xứng: Thông tin không cân xứng trên thị trƣờng tài chính dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các ngân hàng trƣớc nguy cơ rủi ro cao. Môi trƣờng kinh tế: Có ảnh hƣởng đến sức mạnh tài chính của ngƣời đi vay và thiệt hại hay thành công đối với ngƣời cho vay. Nguyên nhân do chính sách của Nhà nƣớc: Trong điều kiện kinh tế mở cửa dƣới nhiều hình thức và phƣơng tiện, những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới có ảnh hƣởng đến các quan hệ kinh tế đối ngoại của một nƣớc mà biểu hiện là cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái….
biến động đến sự biến động của giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu, lãi suất, mức cầu tiền tệ… Môi trƣờng pháp lý: Cùng với môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng pháp lý tạo nên môi trƣờng cho vay của các ngân hàng thƣơng mại. Môi trƣờng cho vay có thể ảnh hƣởng tích cực hay tiêu cực, có thể làm hạn chế hay tăng thêm rủi ro đối với hoạt động kinh doanh tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại. Luan van 9 - Nguyên nhân từ phía ngƣời vay: Nguyên nhân từ phía ngƣời đi vay là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Nhìn chung, các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định đƣợc thông qua quá trình tìm hiểu, nắm vững “tình hình sức khỏe của khách hàng” cả trƣớc, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phƣơng án sản xuất kinh doanh.
Rủi ro trong kinh doanh của ngƣời đi vay: Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hƣớng xấu của kết quả kinh doanh. Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc xây dựng và triển khai các phƣơng án, dự án đầu tƣ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, việc dự toán chi phí và xác định mức sản lƣợng không phù hợp.