CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về rủi ro và phân loại rủi ro trong hoạt động NHTM a. Khái niệm về rủi ro Rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống và vào bất cứ thời điểm nào.
Trong lĩnh vực kinh doanh, dù không được mong đợi, rủi ro vẫn luôn hiện diện trong mọi quyết định của các doanh nghiệp. Tuỳ theo mức độ, rủi ro có thể gây ra những thiệt hại về tài chính và cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn, thậm chí phá sản. Hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, đây là hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Định nghĩa về rủi ro được đưa ra rất nhiều dưới nhiều góc độ khác nhau.
Có thể ghi nhận một vài định nghĩa sau: - Theo tác giả Allan Willett trong sách “The Economic theory of risk and insurance”- Philadelphia University of Pensylvania press, USA 1951: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”.Arthur William, Jr.Smith: “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của con người. Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định.
Nguy cơ rủi ro phát sinh bất Luan van 9 cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước.” Định nghĩa trên dù dưới nhiều góc độ khác nhau song đều cùng đề cập đến hai vấn đề: - Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc. - Một khả năng xấu: một biến cố không mong đợi. Như vậy, có thể kết luận: Rủi ro là khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không mong đợi. Dù đã luôn chú ý để ngăn ngừa và đề phòng nhưng doanh nghiệp vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra.
Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp cần phải đối diện với rủi ro có thể xảy ra bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh, kiểm soát và khắc phục hậu quả của chúng. Phân loại rủi ro trong hoạt động NHTM Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là khả năng hoặc một tiến trình hoặc một sự kiện nào đó gây ra một kết cục không mong đợi đến tình hình tài chính của ngân hàng hoặc cản trở ngân hàng thực hiện các mục tiêu đã định. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng rất phong phú và đa dạng. Vì vậy, rủi ro của NHTM cũng rất phức tạp, một Ngân hàng trong quá trình hoạt động thường đối mặt với các rủi ro chủ yếu sau: - Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả (tiền gốc, tiền lãi hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ và đúng hẹn theo hợp đồng.
Rủi ro tín dụng là biểu hiện tập trung nhất của sự đánh đổi lợi nhuận. - Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất phát sinh khi lãi suất thay đổi làm Ngân hàng bị thiệt hại do giảm lợi nhuận của ngân hàng và làm giảm giá trị ròng Luan van 10 của ngân hàng. Loại rủi ro này phát sinh trong quan hệ tín dụng của tổ chức tín dụng. - Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không thể đáp ứng các dòng tiền ra với mức chi phí thấp và quy mô phù hợp khi ngân hàng có nhu cầu.
- Rủi ro thị trường : Rủi ro thị trường là những rủi ro phát sinh do việc mua, bán các loại tài sản và nợ trong điều kiện có sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá và tài sản khác dẫn đến tổn thất về thu nhập hoặc vốn của ngân hàng - Rủi ro vỡ nợ : Rủi ro vỡ nợ là rủi ro mà một ngân hàng không đủ vốn (chủ sở hữu) để bù đắp sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản so với giá trị nợ. - Rủi ro khác: Rủi ro liên quan đến trường hợp bất khả kháng như: thiên tai, lụt lội, cháy nổ…Để hạn chế rủi ro thì Ngân hàng cho vay phân tán, mua bảo hiểm các khoản cho vay đầu tư lớn, tài sản cố định, cũng như vận động khách hàng mua bảo hiểm. Khái niệm về rủi ro tín dụng trong NHTM a. Khái niệm về rủi ro tín dụng Thực tế đã có rất nhiều khái niệm về RRTD ngân hàng, cụ thể như: - Theo “Financial Institution Management – A Modern Perpective”, A.Lange thì cho rằng “RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và về thời hạn”.Koch thì cho rằng “RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
- Theo khoản 1 điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày Luan van 11 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam và các quyết định sửa đổi, bổ sung về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD, RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Như vậy, có thể hiểu RRTD là biến cố xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế là việc khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM - RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. RRTD xảy ra khi khách hàng vay gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn.
Nói cách khác, những rủi ro trong HĐKD của khách hàng vay đã gián tiếp gây ra RRTD cho ngân hàng. - RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân tức là RRTD xảy ra ở rất nhiều dạng và phụ thuộc vào nguyên nhân đã gây ra RRTD, hình thức và hậu quả của RRTD gây ra không thể lường trước được, tuỳ thuộc vào từng mức độ RRTD của khoản vay. - RRTD có tính tất yếu: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
Phân loại rủi ro tín dụng trong NHTM Theo tính chất rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây: Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp nội tại tập trung vụ - Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng. + Rủi ro bảo đảm: Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo… + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành hai loại: Luan van 13 + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế.
+ Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay… d. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong NHTM - Thông tin không cân xứng, chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường tài chính là các nguyên nhân cơ bản gây nên các rủi ro cho ngân hàng nói chung và RRTD nói riêng. Thông tin không cân xứng (thông tin không đầy đủ, không chính xác) dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch: Rủi ro này do thông tin không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra trước khi thực hiện giao dịch tài chính.
Nếu có đủ thông tin cần thiết về các đối tượng cần vay tiền, ngân hàng sẽ rất dễ dàng quyết định có cho vay hay không cho vay. Nhưng trên thị trường luôn tồn tại thông tin không cân xứng về người đi vay. Thông tin trên thị trường thường bị nhiễu loạn bởi người đi vay, người đi vay không có khả năng trả được nợ là người tích cực vay nhất, họ cố tạo ra bình phong đầy đủ nhất để vay được tiền vay của ngân hàng và kết quả họ là người đầu tiên được lựa chọn. Sự lựa chọn này gọi là sự lựa chọn đối nghịch, những người rất kém tín nhiệm (những người có thể rất dễ không hoàn trả được món vay) lại là những có nhiều khả năng được lựa chọn nhất của ngân hàng.
Nếu ngân hàng cho họ vay, ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ rủi ro không thu lại được nợ vay. Ngược lại, cũng do lựa chọn đối nghịch, ngân hàng sẽ bỏ mất cơ hội kiếm lợi nhuận.