Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đầu tư phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 8. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Tại Việt Nam, thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng nói chung và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay DN. Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình gần đây. - Luận án tiến sĩ “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam” (2010) của tác giả Lê Thị Huyền Diệu.
Luận án nghiên cứu lý luận chung về quản lý rủi ro tín dụng; các luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng; đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 1999 - 2009; xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng thích Luan van 4 hợp với Việt Nam và đề xuất các giải pháp, kiến nghị để vận hành mô hình quản lý rủi ro tín dụng. - Luận án tiến sĩ “Quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP Công thương Việt Nam” (2012) của tác giả Nguyễn Đức Tú. Luận án hệ thống hóa và làm sáng tỏ về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và gia tăng cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng; phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Vietinbank giai đoạn 2008 - 2011 và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhắm tăng cường và quản lý rủi ro tín dụng tại Vietinbank. - Luận án tiến sĩ “Quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam” (2012) của tác giả Nguyễn Tuấn Anh.
Luận án luận giải và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng của NHTM nói riêng; phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNTVN giai đoạn 2007 – 2010; đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNTVN. - Luận văn thạc sĩ “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng đối với DN tại NHNo&PTNT khu vực Tp.HCM” (2008) của học viên Nguyễn Hồng Châu. Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng đối với DNNVV; phân tích rủi ro tín dụng, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với DNNVV tại NHNo&PTNT khu vực Tp. HCM, từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với DN tại NHNo&PTNT khu vực Tp.
- Luận văn thạc sĩ “Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay DNNVV tại Techcombank - Chi nhánh Tp. Luận văn tổng quan những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng; đánh giá thực trạng hoạt động cho vay và quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay DNNVV tại Techcombank- Chi nhánh Tp. HCM giai đoạn 2005- 3/2007; đề Luan van 5 xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lư rủi ro tín dụng đối với DNNVV tại Techcombank- Chi nhánh Tp. “Quản trị rủi ro tài chính” của tác giả Nguyễn Minh Kiều và “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của tác giả Nguyễn Văn Tiến.
Hai công trình này đã đề cập đến các vấn đề chung về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng như quan điểm về RRTD, các nguyên nhân dẫn đến RRTD, các tiêu chí đo lường RRTD, các công cụ, biện pháp phòng ngừa RRTD. Đặc biệt, “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của tác giả Nguyễn Văn Tiến còn chỉ ra các đặc điểm chung đối với các khoản nợ có vấn đề (nợ xấu) và đưa ra 8 bước cần thực hiện để xử lý các khoản nợ này. Các công trình nghiên cứu như: “Kiểm soát tăng trưởng tín dụng đối với các NHTM Việt Nam, Tác động và biện pháp” của TS Nguyễn Thị Loan; “RRTD trong cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các Chi nhánh Ngân hàng BIDV khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” của PGS.TS Lê Khương Ninh. Các công trình này cũng đã đề cập đến vấn đề tăng trưởng tín dụng, các nguy cơ dẫn đến RRTD và đưa ra các biện pháp để phòng ngừa RRTD cho các NHTM.
Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm Thực tế đã có rất nhiều khái niệm về RRTD ngân hàng, cụ thể như: Theo cuốn Risk Management in Banking của Joel Bessis thì rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay. [15] Anthony Saunders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.Koch (2006) thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
[17] Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Vậy RRTD là những thiệt hại kinh tế mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho ngân hàng, đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Phân loại rủi ro tín dụng [14] Có nhiều tiêu chí để phân loại rủi ro tín dụng, sử dụng tiêu chí nào là phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu của người nghiên cứu.
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành 02 loại: Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro lựa Rủi ro Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro tập chọn bảo đảm nghiệp vụ tại trung Hình 1. Phân loại rủi ro tín dụng - Rủi ro giao dịch : là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn : là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm : phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. Luan van 8 + Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục : là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Ngoài tiêu chí nguyên nhân phát sinh rủi ro, người ta còn phân loại theo các tiêu chí khác như phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân phát sinh rủi ro; phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay… 1. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Cho vay ĐTPT là một trong những loại hình cho vay của các ngân hàng, do đó, rủi ro trong cho vay ĐTPT của NHPT cũng mang những đặc trưng của rủi ro cho vay nói chung.
- Một là, rủi ro tín dụng mang tính tất yếu Rủi ro luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động cho vay của ngân hàng. Do NHPT không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay của khách hàng, nên bất kỳ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ Luan van 9 rủi ro (người vay hoàn toàn không thể trả nợ; người vay trả nợ không đầy đủ; người vay trả nợ không đúng hạn. Xuất phát từ đặc điểm này, trong cho vay ĐTPT, NHPT phải chủ động áp dụng các biện pháp thích hợp để xử lý vấn đề thông tin không cân xứng nhằm đối phó với rủi ro, đo lường rủi ro và xác định giá khoản vay phù hợp. - Hai là, rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp Cho vay ĐTPT thực chất là việc NHPT chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định để đầu tư vào các dự án ĐTPT, do đó rủi ro của hoạt động cho vay ĐTPT xẩy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng.
Biểu hiện của đặc điểm này trong thực tế là ngân hàng thường biết sau, biết không đầy đủ hoặc không chính xác về những khó khăn, thất bại trong quá trình đầu tư và vận hành dự án của khách hàng.