phần mở đầu và kết luận, đề tài có kết cấu bao gồm 4 chƣơng sau đây: - GIỚI THIỆU - Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THEO HIỆP ƢỚC BASEL II. - Chƣơng 2: QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƢỚC BASEL II TẠI OCB - Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HIỆP ƢỚC BASEL II VÀO QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG PHƢƠNG ĐÔNG IX. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu. Các nghiên cứu nƣớc ngoài.
Wahlstroms (2002), đã nhận định việc đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng Basel II đối với đo lƣờng rủi ro tín dụng và nhận định việc xây dựng, ban hành Basel II là có cơ sở thực tế, phù hợp nhƣng còn rất nhiều e ngại về những thách thức trong xác định rủi ro v 5 Felix và Claudine (2008), khảo sát mối liên hệ giữa hiệu suất hoạt động ngân hàng và quản lý rủi ro tín dụng. Nghiên cứu cho thấy cả hai chỉ số ROE và ROA đều phản ánh khả năng sinh lời nhƣng tỷ lệ thuận với tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ của các tổ chức tài chính do đó dẫn đến giảm lợi nhuận và ảnh hƣởng xấu tới hoạt động trong Ngân hàng. Psillaki (2010), nghiên cứu sự gia tăng nợ xấu hiện nay, Hiệp ƣớc Basel II nhấn mạnh vào quản lý rủi ro tín dụng trong thực tiễn. Tuân thủ các chuẩn mực, đánh giá, dự doán đƣợc rủi ro hợp lý góp phần giúp ngân hàng giải quyết các rủi ro tín dụng và giúp cải thiện hiệu suất ngân hàng.
Tehulu và cộng sự (2014) nghiên cứu về các nhân tố quyết định liên quan đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại Ethiopia cho thấy rằng tăng trƣởng tín dụng và quy mô ngân hàng có ảnh hƣởng tiêu cực và có ý nghĩa thống kê về rủi ro tín dụng. Ngƣợc lại, hiệu quả hoạt động thấp và quyền sở hữu có ảnh hƣởng tích cực và có ý nghĩa thống kê rủi ro tín dụng. Cuối cùng, kết quả cho thấy rằng lợi nhuận, tỷ lệ an toàn vốn và khả năng thanh toán ngân hàng có mối quan hệ tiêu cực nhƣng không có ý nghĩa thống kê về rủi ro tín dụng. Zribi và Boujelbène (2011) nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô và khả năng kiểm soát RRTD của 10 tổ chức tín dụng Tunisia (1995 -2008) dùng bảng mô hình dữ liệu với các hiệu ứng cố định (FE), hiệu ứng ngẫu nhiên (RE).
Biến phụ thuộc là nợ xấu của TCTD (NPL) đo lƣờng nguy cơ nợ xấu của hệ thống ngân hàng và biến độc lập là cơ sở sở hữu, các quy định an toàn vốn, lợi nhuận, GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở sở hữu, lợi nhuận và các chỉ số kinh tế vĩ mô (tăng trƣởng GDP cao, lạm phát, tỷ giá hối đoái, và lãi suất có ảnh hƣởng đến nợ xấu của hệ thống TCTD. Trong đó nhấn mạnh yếu tố cấu trúc chủ sở hữu, cấu trúc chi phí, lãi suất và phát hiện có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát nguy cơ của các TCTD Tunisia. Zergaw (2019) đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến quản trị RRTD, trƣờng hợp các NHTM tại Ethiopia.
Tác giả đã sử dụng công cụ phân tích dữ liệu mô tả và hồi quy thông qua phần mềm SPSS20 để xử lý dữ liệu. Thông tin lấy từ bảng 6 câu hỏi, sau đó đƣợc sửa đổi và phân loại theo kích thƣớc của dữ liệu. Kết luận tìm ra các nhân tố là yếu tố thiết lập môi trƣờng rủi ro tín dụng, quy trình cấp tín dụng, quy trình giám sát tín dụng, đánh giá thị trƣờng, phân tích rủi ro hoạt động, phân tích rủi ro pháp lý. Để đánh giá ảnh hƣởng của các nhân tố này đến lợi nhuận của ngân hàng, nghiên cứu đã dùng cả thống kê mô tả và thống kê suy luận.
Các nghiên cứu trong nƣớc. Nguyễn Thị Thùy Linh (2006), giới thiệu rõ ràng đƣợc về hiệp ƣớc quốc tế về an toàn vốn và công việc giám sát hoạt động tại các ngân hàng. Hiệp ƣớc Basel III và Basel II đều đƣợc làm rõ. Tác giả chỉ ra đƣợc thực trạng việc áp dụng hiệp ƣớc quốc tế về an toàn vốn trong quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam.
Trong bài luận tác giả chỉ ra hoạt động hệ thống của Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, quy mô và năng lực hoạt động của Ngân hàng. Đánh giá các loại rủi ro có thể gặp phải. Chỉ tiêu về lợi nhuận, cổ phần, mức độ am hiểu về Basel II của nhân viên trong Ngân hàng, mức độ tuân thủ nguyên tắc. Ngoài ra, tác giả còn đƣa ra đƣợc những khó khăn hệ thống gặp phải khi áp dụng hiệp ƣớc Basel II.
Kết luận tác giả đƣa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng Basel IItrong quản trị rủi ro tại NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả tập trung nhiều vào những khó khăn và thuận lợi của NHTM gặp phải khi áp dụng Basel II mà chƣa chỉ ra rõ những yếu tố nào tác động đến điều đó, yếu tố nào quan trọng nhất trong việc áp dụng hiệp ƣớc Basel IItrong quản trị rủi ro Ngân hàng. Tôn Thanh Tâm (2012), đánh giá về những khó khăn, thách thức của các NHTM Việt Nam trong việc vận dụng các quy định về tỷ lệ an toàn vốn theo Hiệp ƣớc Basel III. Nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của hệ số an toàn vốn đối với Ngân hàng, hệ số an toàn vốn này giúp các Ngân hàng đảm bảo đƣợc vốn trƣớc những rủi ro của nền kinh tế.
Tuy nhiên, tại các NHTM Việt Nam hiện nay còn rất nhiều những hạn chế, khó khăn và thách thức khi áp dụng Basel III. Nguyễn Thị Tuyết Nga (2016), chỉ ra đƣợc việc áp dụng Basel II sẽ đƣợc sớm đƣa vào vận dụng tại NHTM Việt Nam nhằm tiến gần hơn với các thông lệ quốc tế để đảm bảo sự ổn định cho hệ thống ngân hàng và thị trƣờng tài chính. 7 Nghiên cứu đƣa ra đƣợc thực trạng thí điểm Basel II vào các NHTN Việt Nam đến năm 2016, từ đó đƣa ra những hạn chế với hệ thống NHTM Việt Nam khi áp dụng hiệp ƣớc Basel III, chỉ ra đƣợc những điểm yếu của Ngân hàng về nhân lực, giám sát, vốn,. Qua đó đƣa ra những kiến nghị trong việc áp dụng Basel II vào quản trị rủi ro Ngân hàng.
Nghiên cứu này tuy chỉ ra rất rõ những hạn chế, điểm yếu của các NHTM Việt Nam khi áp dụng Basel II vào quản trị rủi ro nhƣng chƣa chỉ ra những yếu tố tác động đến các chỉ tiêu hệ số trong Basel II và nghiên cứu này trong thời điểm hiện nay có vài điểm yếu đã đƣợc các Ngân hàng cải thiện rất nhiều. Lê Bá Trực (2018), đã nghiên cứu về ảnh hƣởng của các ký tự đến RRTD quản trị trong hệ thống HTML Việt Nam. Nghiên cứu đã giới thiệu bảy nguyên lý lý thuyết về RRTD và RRTD quản trị trong ngân hàng. Nghiên cứu đã áp dụng phƣơng pháp kiểm tra GMM định lƣợng để thiết lập mô hình đo lƣờng RRTD.
Kết quả cho thấy quản trị RRTD của các NTM Việt Nam bị ảnh hƣởng ít từ tăng trƣởng kinh tế liên quan đến giảm giá trị thị trƣờng bất động sản và bị ảnh hƣởng nhiều từ sự phát triển nhanh của hoạt động mạng lƣới, một hình ảnh bị đóng băng - bị chi phí quản lý hiệu quả tác động. Kết quả cũng cho thấy các luật ngân hàng tiêu chuẩn bao gồm tài sản và vốn lớn sẽ an toàn hơn các luật ngân hàng nhỏ hơn. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ tài sản chung cao, nhƣ việc tắm, là một công cụ giảm thiểu sự nghĩ rủi ro của các chủ ngân hàng vĩnh viễn Trần Kiên Nghị (2017), đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP HCM – HDBank – Chi nhánh Vũng Tàu. Kết quả phân tích cho thấy, các nhân tố gồm: (1) Chính sách tín dụng, (2) Xếp hạng tín dụng, (3) Quy trình cấp tín dụng, (4) Môi trƣờng bên ngoài, (5) Chất lƣợng nguồn nhân lực, (6) Thông tin tín dụng.
Các nhân tố này đều có tác động đến quản trị RRTD và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Kết quả phân tích cũng cho thấy quản trị RRTD là hoạt động quan trọng trong quá trình điều hành và phát triển của HDBank. Quản trị RRTD hiệu quả sẽ giúp giảm rủi ro tín dụng - một hoạt động chủ yếu ở các NTM Việt Nam hiện nay, cũng nhƣ tăng lợi nhuận, cải thiện tính cạnh tranh và năng lực hoạt động cho ngân hàng. 8 Nguyễn Thị Thanh Tâm (2022), chỉ ra đƣợc việc áp dụng Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Á Châu từ để nêu lên khả năng áp dụng đối với các ngân hàng khác tại Việt Nam.
Việc áp dụng Basel II còn phụ thuộc nhiều yếu tố và tình trạng hoạt động của mỗi Ngân hàng. Tác giả nêu đƣợc sơ lƣợc về Ngân hàng Á Châu và lịch sử của hiệp ƣớc Basel, so sánh các hiệp ƣớc Basel I , II. Nêu ra đƣợc những kinh nghiệm triển khai Basel II ở các nƣớc Quốc tế. Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng hiện nay tại Á Châu.
Cuối cùng là đƣa ra giải pháp hoàn thiện và kiến nghị. Luận văn này đƣa ra những dẫn chứng chi tiết cụ thể và nêu rõ ràng về tình trạng khó khăn khi áp dụng Basel II tại Việt Nam và ví dụ về Quốc tế. Nhƣng chƣa chỉ ra đƣợc những yếu tố ảnh hƣởng dến những khó khăn khi áp dụng Basel II và luận văn này chỉ nói về mảng tín dụng chứ không bao quát toàn bộ Ngân hàng. Hội nhập quốc tế là xu hƣớng tất yếu xảy ra và ngành ngân hàng cũng không ngoại lệ.
Với tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng, Ủy ban Basel đã đƣa ra các Hiệp ƣớc Basel về quản trị rủi ro tín dụng nhằm mong muốn giúp hệ thống ngân hàng hoạt động tốt hơn, kiểm soát, phòng tránh đƣợc rủi ro. Basel II đƣợc áp dụng bởi nhiều cơ quan quản lý tiền tệ ở các nƣớc phát triển trên thế giới. Mục tiêu của hiệp ƣớc này là ổn định hệ thống tài chính và nền kinh tế. Tại Việt Nam, các ngân hàng cũng đã bắt đầu chú trọng vào quản trị rủi ro tín dụng và áp dụng các Hiệp ƣớc quốc tế và quản trị rủi ro.