CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ khác [13]. Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động cơ bản nhất trong hoạt động ngân hàng, nó mang lại phần lớn doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng nhưng nó cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong hoạt động ngân hàng.
Trên thực tế có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng, chẳng hạn như: Theo “Financial Institution Management - A Modern Perpective”, A. Lange: Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và về thời hạn.Koch thì cho rằng: Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Theo khoản 01 điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trọng hoạt động tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng tại quy định 493/2005/QĐ-NHNN ngày Luan van 7 22/04/2005 của thống đốc NHNN: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Theo định nghĩa khác: [5] - Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ. - Rủi ro tín dụng là rủi ro mà một khoản cho vay hoặc tài sản có trở nên không thể thu hồi hoặc bị trì hoãn ngoài mong muốn. Như vậy, rủi ro tín dụng là ngôn từ thường được sử dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính. Đó là rủi ro xảy ra khi khách hàng vay nợ không hoàn trả đầy đủ, đúng hạn số vốn vay và lãi vay cho ngân hàng khi đến hạn phải thanh toán hoặc không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Rủi ro tín dụng chính là biểu hiện tập trung nhất của sự đánh đổi lợi nhuận - rủi ro. Điều này có nghĩa là nếu ngân hàng muốn gia tăng lợi nhuận thì rủi ro gặp phải cũng gia tăng; còn nếu ngân hàng muốn có rủi ro thấp thì lợi nhuận kiếm được sẽ ít đi. Do đó, thành công hay thất bại của ngân hàng phần khá lớn đều bắt nguồn từ những vấn đề tín dụng. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng a.
Nguyên nhân khách quan * Nguyên nhân do yếu tố thiên nhiên Các thiệt hại phát sinh từ nguyên nhân thiên tai như thời tiết, khí hậu, động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh,… có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, Luan van 8 làm cho khách hàng kinh doanh giảm sút, gặp khó khăn, khả năng trả nợ giảm, dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng. * Nguyên nhân từ chính trị - pháp luật Một nền chính trị ổn định là điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất, tập trung vốn cho mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu môi trường chính trị không ổn định, xảy ra các cuộc xung đột, chiến tranh làm cho doanh nghiệp không quan tâm đến sản xuất, khi đó hoạt động sản xuất sẽ trở nên trì trệ, khả năng trả nợ ngân hàng rất khó khăn. Ngoài ra, luật pháp không nhất quán, mâu thuẫn, không rõ ràng và ổn định làm cho hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng không ổn định, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.
* Nguyên nhân từ môi trường kinh tế Môi trường kinh tế chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ như chính sách về kinh tế, chính sách tiền tệ, chính sách đối ngoại,. Chỉ cần chính phủ thay đổi một trong các chính sách trên, ngay lập tức sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và cả các ngân hàng. Nếu các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ đúng đắn, phù hợp với thực tế thì nền kinh tế sẽ phát triển hưng thịnh, tăng trưởng ổn định khiến cho hoạt động kinh doanh của khách hàng trở nên thuận lợi hơn, lợi nhuận kiếm được sẽ cao hơn, từ đó làm cho khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng trở nên chắc chắn hơn. Ngược lại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, làm cho nền kinh tế giảm sút, mất ổn định, khách hàng tiêu thụ sản phẩm chậm và quá trình thu hồi vốn của các doanh nghiệp trở nên khó khăn, từ đó làm cho khả năng trả nợ vay suy giảm.
* Nguyên nhân từ môi trường xã hội Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng thông qua ý thức trả nợ Luan van 9 của khách hàng. Trình độ dân trí cao thì ý thức trả nợ sẽ cao, ngân hàng cho vay gặp ít rủi ro hơn. * Nguyên nhân từ môi trường công nghệ Công nghệ là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, nó là động lực chính trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế. Công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành giảm, thay đổi cách phân phối và tiếp cận người tiêu dùng.
Doanh nghiệp có ưu thế về công nghệ sẽ tạo ra lợi nhuận chắc chắn hơn, khả năng hoàn trả vốn vay sẽ cao hơn. Nguyên nhân chủ quan * Nguyên nhân từ phía khách hàng Rủi ro tín dụng xuất phát từ trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo ngân hàng, chây ì trong việc trả nợ. Rất nhiều người vay sử dụng vốn ngân hàng để thực hiện các dự án đầu tư mạo hiểm nhằm kiếm lợi nhuận cao. Để đạt được mục tiêu, họ đã sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để đối phó với ngân hàng như làm giả giấy tờ, cung cấp thông tin sai lệch, mua chuộc cán bộ ngân hàng,… Bên cạnh đó, cũng có khách hàng không đo lường, tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xẩy ra trong kinh doanh, không có khả năng ứng phó và khắc phục khó khăn trong kinh doanh.
Cũng có nhiều khách hàng do không đủ năng lực tài chính trong khi lại không có hoặc không đủ tài sản thế chấp hoặc giấy tờ tài sản thế chấp cho khoản vay không hợp pháp, hợp lệ nên đã lập các giấy tờ giả mạo để lừa đảo ngân hàng nhằm đạt đủ điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng. Đối với các trường hợp này, xác suất xảy ra rủi ro tín dụng đối với ngân hàng là rất cao. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng còn có thể xuất phát từ việc sử dụng Luan van 10 vốn vay ngân hàng sai mục đích của người vay, chẳng hạn như ngân hàng thẩm định và quyết định cho vay ngắn hạn vốn lưu động phục vụ kinh doanh nhưng khách hàng đã sử dụng vốn vay đó để đầu tư mua bất động sản, máy móc thiết bị hoặc đầu tư xây dựng nhà xưởng,… Như vậy những giá trị thẩm định của ngân hàng trở nên vô nghĩa và rủi ro tín dụng có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào do nó khiến khách hàng mất đi sự cân đối vốn, gây khó khăn trong kinh doanh, từ đó làm cho khách hàng mất đi khả năng thánh toán nợ vay cho ngân hàng. Trường hợp còn lại, người vay kinh doanh có lãi song vẫn không muốn và/hoặc chây ì trong việc trả nợ cho ngân hàng với ý muốn quỵt nợ ngân hàng hoặc muốn sử dụng vốn vay lâu hơn thời hạn cho phép.
Đó chính là biểu hiện của rủi ro đạo đức của người vay. * Nguyên nhân từ phía Ngân hàng Ø Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra ngân hàng nhà nước ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Tuy nhiên công việc kiểm tra nội bộ hiện nay của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức, chưa sâu sát việc kiểm soát rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Ø Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ Khách hàng vay hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau và có nhiều đối tượng vay vốn khác nhau nên để cho vay tốt, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải am hiểu khách hàng, am hiểu lĩnh vực ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh cũng như môi trường khách hàng đang sống.
Do đó, nếu cán bộ ngân hàng không có đủ trình độ và sự am hiểu nhất định thì sẽ rất khó trong việc quản lý khách hàng cũng như đưa ra những dự báo có tính thực Luan van 11 tế về các rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay, từ đó làm cho rủi ro tín dụng luôn rình rập đối với hoạt động ngân hàng. Trong thời đại ngày nay, sống trong xã hội mà đồng tiền luôn đóng vai trò quan trọng nên đã có nhiều cán bộ ngân hàng không thể vượt qua được sự cám dỗ của đồng tiền. Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay hoặc nâng khống giá trị tài sản thế chấp/cầm cố lên quá cao so với giá trị thực tế hoặc dễ dãi trong hồ sơ vay vốn nhằm mục đích rút ruột nguồn tiền của ngân hàng, gây thất thoát vốn cho Ngân hàng.