CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Thương mại là được hiểu là “loại hình doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của pháp luật, thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Như vậy, hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại gồm: huy động vốn, tín dụng, đầu tư và các dịch vụ ngân hàng khác, trong đó hoạt động tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại a. Khái niệm hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và khách hàng (bên đi vay) trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các Ngân hàng Thương mại. Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản, thu nhập từ tín dụng thường chiếm từ 50% - 70% tổng thu nhập của Ngân hàng Thương mại. Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong 5 kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào hoạt động này.
Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các Ngân hàng Thương mại cũng như thanh tra ngân hàng. Đặc trưng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại - Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin. Ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ. - Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền.
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đầy đủ đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay. - Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng Thương mại Có nhiều hình thức tín dụng khác nhau, dưới đây là một số hình thức tín dụng chủ yếu mà Ngân hàng thương mại thực hiện. * Căn cứ vào mục đích cho vay Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại hình cho vay đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. - Tín dụng nông nghiệp: là loại hình cho vay để chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
6 - Tín dụng tiêu dùng: Là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân. * Căn cứ theo thời hạn cho vay Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm (có thể khác nhau ở mỗi nước). Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh… - Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 5 năm, có thể kéo dài đến 20 - 30 năm hoặc thậm chí lâu hơn.
Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, cơ sở hạ tầng, trồng cây lâu năm… * Căn cứ theo khách hàng vay vốn Căn cứ theo khách hàng vay vốn, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng đối với cá nhân: là loại hình cho vay để bù đắp nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của cá nhân. - Tín dụng đối với tổ chức/doanh nghiệp: là loại hình cho vay để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tuỳ vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có thể phân chia loại hình tín dụng theo phương pháp hoàn trả, xuất xứ tín dụng, mức độ tín nhiệm với khách hàng.
Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế - Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp, việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Thông qua hoạt động tín dụng giúp các doanh nghiệp sử dụng nguồn lao động và nguyên liệu hợp lý thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội.
- Thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hoạt động của các ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi nằm phân tán trong các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước và cá nhân để cho vay các đơn vị kinh tế, những người có nhu cầu về vốn và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. - Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn. Trong điều kiện nước ta, Nhà nước tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở lôi cuốn các ngành kinh tế khác phát triển như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí… - Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức.
Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử dụng vốn một cách có hiệu quả. 8 Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp có nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, điều đó buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp. - Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng sản xuất hàng hoá, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là sự không chắc chắn liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Với mục tiêu là đúng hạn theo hợp đồng tín dụng nhận được đầy đủ gốc và lãi như đã nêu ở trên, thì rủi ro tín dụng có thể được hiểu là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do các bên đối tác trong hợp đồng tín dụng không có khả năng hoặc không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam kết. Các loại rủi ro tín dụng - Không thu được lãi đúng hạn: Cấp độ thấp nhất là khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. 9 Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp. - Không thu được vốn đúng hạn: Khi không thu được vốn đúng hạn, một phần do một lượng vốn cho vay lớn bị mất.
Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển số nợ vốn đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. - Không thu được đủ lãi: Khi Ngân hàng không thu được đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng hơn. Hoạt động kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho Ngân hàng.
Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng. - Không thu đủ vốn cho vay: Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và lúc này Ngân hàng đã bị mất vốn.