CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng: Theo Basel II, rủi ro tín dụng được định nghĩa là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận. Theo Dictionary of Banking Terms.Third Edition, Barron’s, 1997, rủi ro tín dụng là khả năng bên đi vay không thực hiện trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay, và có thể vỡ nợ.
Các nhà kinh tế học định nghĩa rủi ro theo nhiều cách khác nhau.Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”.Koch cho rằng: “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Frank Knight định nghĩa “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” còn học giả người Anh Marilic Hurt Mr Carty quan niệm “rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”. Vậy rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Rủi ro tín dụng chính là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa thu nhập thực tế và kỳ vọng khi đúng hạn.
Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho ngân hàng, đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Đặc điểm của rủi ro tín dụng ngân hàng - Rủi ro tín dụng mang tính bị động: Tổn thất tín dụng đối với ngân hàng chỉ xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân, tức trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay, nên chính khách hàng mới là người có đầy đủ thông tin về chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay. Điều này hàm ý, do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng thường ở vào thế bị động, là người biết thông tin sau hoặc biết không chính xác, không đầy đủ về những khó khăn, thất bại của khách hàng trong kinh doanh nói chung và trong việc sử dụng vốn vay nói riêng, khiến cho ngân hàng thường bị chậm trễ trong ứng phó.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Do tính chất đa dạng và phức tạp về khách hàng vay vốn, đối tượng cho vay, loại hình tín dụng, nguyên nhân và hậu quả,. đã làm cho rủi ro tín dụng trở nên có tính chất đa dạng phức tạp. Chính sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng buộc ngân hàng phải chú trọng nhiều hơn đến công tác quản trị rủi ro tín dụng, từ việc thiết lập chính sách tín dụng, sử dụng các công cụ quản trị rủi ro, đến quy trình trong khâu nhận diện, đánh giá, đo lường, xử lý và kiểm soát rủi ro tín dụng. - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng gắn liền với rủi ro, trong kinh doanh tín dụng cũng không là ngoại lệ.
Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên mối quan hệ “rủi ro – lợi nhuận” nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi nhuận tương thích với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả nếu mức rủi ro mà ngân hàng chấp nhận là hợp lý, kiểm soát được và trong khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực kinh doanh của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Xây dựng các tiêu chí phân loại rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất lớn trong việc thiết lập chính sách, quy trình và mô hình tổ chức quản trị tín dụng. Phân loại rủi ro tín dụng giúp nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt được rủi ro phát sinh trong từng giai đoạn cấp tín dụng.
Cách phân loại rủi ro tín dụng chủ yếu gồm: 9 1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro - Rủi ro giao dịch: Là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc từng khách hàng cụ thể. Đây là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế, sai sót trong quá trình tác nghiệp như thẩm định xét duyệt tín dụng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay hoặc thực hiện đảm bảo tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn đối nghịch, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn đối nghịch: Là do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi quyết định tín dụng. + Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản quy định trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, hình thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm. + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản nợ có vấn đề. - Rủi ro danh mục tín dụng: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong (nội tại) của mỗi khách hàng hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động hay đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng. + Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung tín dụng quá mức vào một/ một số khách hàng, vào cùng một/ một số ngành lĩnh vực hoặc trong cùng một/ một số vùng địa lý nhất định. Căn cứ vào mức độ tổn thất - Rủi ro đọng vốn (do không hoàn trả nợ đúng hạn): Là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn trả nợ theo thỏa thuận mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được 1 vốn, dẫn đến các khoản vốn bị đóng băng (kém lỏng) và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: kế hoạch sử dụng vốn và khó khăn trong quản lý thanh khoản. - Rủi ro mất vốn (do không có khả năng trả nợ): Là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi, buộc ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo để thu nợ.
Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí nợ khó đòi, chi phí giám sát, đồng thời làm giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng. Căn cứ nguyên nhân khách quan hay chủ quan - Rủi ro khách quan: Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến cố bất khả kháng khác làm thất thoát tín dụng trong khi khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng quy trình, chính sách tín dung, cũng như những nội dung quy định trong hợp đồng tín dụng. - Rủi ro chủ quan: Do nguyên nhân thuộc về chủ quan khách hàng và ngân hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì lý do chủ quan khác. Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro - Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong khâu lập hồ sơ và phân tích tín dụng dẫn đến quyết định cho vay các khách hàng không đủ điều kiện và không có khả năng trả nợ trong tương lai.
- Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong quy trình giải ngân. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này gồm: sai sót trong giải ngân, giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên hay không dự báo được rủi ro tiềm năng. - Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng không nắm được tình hình và mục đích sử dụng vốn vay, thay đổi trong khả năng tài chính, cũng như thiện chí trả nợ của khách hàng. Căn cứ vào phạm vi rủi ro của tín dụng - Rủi ro tín dụng cá biệt: Là rủi ro xảy ra chỉ đối với một khoản tín dụng hay một khách hàng, một danh mục hay một ngành/ lĩnh vực cụ thể.
Một số nguyên 1 nhân dẫn đến rủi ro cá biệt gồm: đặc điểm ngành/ lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, thay đổi bất thường về tình hình tài chính, năng lực quản lý cũng như thiện chí (đạo đức) của khách hàng. - Rủi ro tín dụng hệ thống: là rủi ro xảy ra không chí đối với một khoản tín dụng, một khách hàng, một ngân hàng mà có tính hệ thống với hiệu ứng lan truyền trong cả khu vực ngân hàng. Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro hệ thống gồm: thay đổi cơ chế chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng, tác động tiêu cực của kinh tế vĩ mô đến khách hàng và ngân hàng, bất ổn chính trị - xã hội, và các nguyên nhân bất khả kháng từ môi trường tự nhiên và bên ngoài. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng ngân hàng 1.
Nguyên nhân khách quan Mỗi doanh nghiệp luôn hoạt động trong một môi trường vĩ mô và vi mô nhất định. Hoạt động của doanh nghiệp không những phản ánh mà còn chịu tác động đáng kể từ các môi trường này. - Môi trường vĩ mô: Các yếu tố vĩ mô tác động đến hoạt động kinh doanh của khách hàng và ngân hàng được phân tích theo mô hình PEST gồm: Political (môi trường chính trị và luật pháp), Economics (môi trường kinh tế), Sociocultrural (môi trường văn hóa – xã hội), và Technological (môi trường công nghệ). Bốn yếu tố này là khách quan, nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp và ngành, nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng.
+ Môi trường chính trị và luật pháp: Sự thay đổi thể chế, luật pháp, sự bất ổn chính trị,.